|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày : 31/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Dung
- Các Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Lợi
- : Bà Nguyễn Thị Ngọc Mỹ
- Thư ký phiên tòa : Bà Trần Minh Tâm -
là thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa:
Bà Tăng Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn V sinh năm: 1997 tại Quảng Nam; Hộ khẩu thường trú: thôn D, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Trần Thị L (chết); vợ: Nguyễn Thị Huệ A (đã ly hôn), có 01 con (sinh năm 2020); tiền sự: không; tiền án: không; Nhân thân: Bản án số 21/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2022; Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam B (xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) thuộc Cục C1 - Bộ C2 (Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người bị hại: Ông Huỳnh Huy D sinh năm: 2000
Địa chỉ: C T, phường T, quận T, TP HCM.
(vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị Huệ A sinh năm: 1996
- Địa chỉ: số B Ngõ I, đường N, K, TP V, tỉnh Nghệ An.
- (vắng mặt)
- + Công ty TNHH T3
- Trụ sở: B K, Phường E, Quận D, TP HCM.
- Chi nhánh: 289 N, phường B, TP T, TP HCM.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế G - Giám đốc Công ty.
- (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Ông Trần Đức K sinh năm: 2003
- Địa chỉ: B N, phường B, TP T, TP HCM.
- (vắng mặt).
- + Bà Trần Thị P sinh năm: 1994
- Địa chỉ: thôn D, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
- (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 29/10/2022, Trần Văn V đã đến quán H (địa chỉ số D T, Phường B, quận P) để mượn xe máy của ông Huỳnh Huy D (là đồng nghiệp cũ của V) để đi công việc do xe Vủ bị hư, V hứa với ông D là sẽ trả lại xe vào sáng ngày 30/10/2022. Ông D đồng ý cho V mượn xe máy của ông D, hiệu Piagio Liberty, biển số 76H1-332.56 (kèm giấy đăng ký xe để trong cốp xe).
Đến sáng 30/10/2022, V1 không trả xe cho ông D như đã cam kết. Do V đang có nhiều khoản vay đến hạn nhưng không có khả năng chi trả nên ngày 31/10/2022, V mang xe máy hiệu Piagio Liberty, biển số 76H1-332.56 và giấy đăng ký xe đến cửa hàng C3 (số B N, phường B, TP T, TP HCM), cầm cho ông Trần Đức K1 (là nhân viên cửa hàng) với giá 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng, tiền lãi 290.000 đồng/tuần. Ông K1 đồng ý chuyển tiền vào số tài khoản 19036863448013 của Ngân hàng T4, chủ tài khoản là bà Nguyễn Thị Huệ A (vợ của V) theo đề nghị của V. Tài khoản này do V quản lý và trực tiếp sử dụng. Ngay khi ông K1 chuyển tiền vào, V sử dụng tài khoản trên để chuyển khoản trả 10.000.000 (mười triệu) đồng cho ứng dụng vay tiền (không nhớ tên ứng dụng), sau đó tiếp tục vay 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng từ ứng dụng vay tiền trên app điện thoại. Sau đó, V đến cửa hàng cầm đồ Thiên T 3 trả số tiền 15.290.000 (mười lăm triệu hai trăm chín mươi ngàn) đồng, chuộc lại xe máy hiệu Piagio Liberty, biển số 76H1-332.56 nhưng V lại không mang trả xe cho ông D như đã hứa.
Đến ngày 01/11/2022, do tiếp tục bị đòi nợ nhiều nhưng không có khả năng chi trả nên V tiếp tục mang xe máy hiệu Piagio Liberty, biển số 76H1-332.56 và giấy đăng ký xe đến cửa hàng cầm đồ T, cầm cho ông K1 với giá và lãi như ngày 31/10/2022. Lần này, V yêu cầu ông K1 chuyển tiền vào số tài khoản 9704229209330888934 của Ngân hàng M (do V quản lý, sử dụng), chủ tài khoản tên Nguyễn Thị Huệ A và dùng số tiền trên để trả nợ.
Từ ngày 30/10/2022 đến ngày 04/11/2022, do không thấy V đến trả xe như đã hứa, nên ông D liên tục gọi điện cho V nhưng V không bắt máy. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 04/11/2022, ông D được một người bạn (không nhớ rõ họ tên) báo tin V đã mang xe máy của ông D đến cầm tại cửa hàng C3 nên ông D đã đến Công an P1, quận P trình báo.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đồng thời, V khai khi cầm cố xe máy hiệu Piagio Liberty biển số 76H1-332.56 cho ông K1, V không nói cho ông K1 biết đây là tài sản do phạm tội mà có. Sau khi Công an tiến hành làm việc với ông K1, ông K1 đã giao nộp xe trên cho cơ quan Công an.
Bà Nguyễn Thị Huệ A (vợ của V) khai nhận: khoảng tháng 5/2022, bà A đã đưa điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus cho V sử dụng, bên trong điện thoại này có tài khoản, ứng dụng internet banking và mật khẩu tài khoản số 19036863448013 (Ngân hàng T4), tài khoàn số 9704229209330888934 (Ngân hàng M). Từ đó đến nay, V là người trực tiếp quản lý, sử dụng hai tài khoản trên. Sau khi đưa cho V sử dụng thì bà A không còn sử dụng hai tài khoản này, bà A không biết V sử dụng hai tài khoản này vào mục đích gì. Bà A và V đã ly hôn.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 xe máy hiệu Piagio Liberty biển số 76H1-332.56 và 01 giấy đăng ký xe máy mang tên Huỳnh Huy D.
Theo Kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận P ngày 25/11/2022 thì 01 xe máy hiệu Piagio Liberty, biển sổ 76H1-332.56 trị giá 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng.
Tại Bản cáo trạng số 22/CT-VKSPN ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố Trần Văn V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận giữ quyền công tố và trình bày:
Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ buộc tội và các tình tiết khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau. Lợi dụng lòng tin của người bị hại, sau khi bị hại là ông D cho mượn xe máy và giấy chứng nhận xe máy để đi công việc, do cần tiền tiêu xài và trả nợ, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt nên không giao xe trả cho ông D như đã hứa mà bị cáo mang đi cầm cố, không có khả năng trả lại tài sản và cắt đứt liên lạc với ông D.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù của Bản án số 21/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự:
- + Người bị hại là ông D đã nhận lại tài sản là 01 chiếc xe máy hiệu Piagio Liberty biển số 76H1-332.56 và 01 giấy đăng ký xe máy. Ông D không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với Công ty TNHH T3, trong quá trình giải quyết vụ án Công ty T3 có yêu cầu bị cáo V trả lại số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng đã nhận (phát sinh từ giao dịch cầm cố) của Công ty T3. Ngày 29/5/2024, chị ruột của V là bà Trần Thị P đã trả cho Công ty T3 số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng. Công ty T3 xác nhận đã nhận tiền và không có yêu cầu gì liên quan đến việc cầm cố tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Bị cáo Trần Văn V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về việc xét xử vắng mặt bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Đối với bị cáo Trần Văn V: Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo. Bị cáo đã ký nhận trực tiếp, tuy nhiên, do hiện nay bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại trại giam B (xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) thuộc Cục C1, Bộ C2 nên bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị cáo (có xác nhận của Ban giám thị Trại giam B).
Đối với người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: vắng mặt tại phiên tòa.
Nhận thấy, trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là phù hợp với lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời cũng phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra, biên bản xác định địa điểm, biên bản ghi nhận sự việc, các bản ảnh trích xuất từ camera, kết luận của hội đồng định giá cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận:
Lợi dụng lòng tin của người bị hại là ông Huỳnh Huy D (đồng nghiệp củ của V), sau khi ông D cho bị cáo mượn xe máy và giấy chứng nhận xe máy để đi công việc, do cần tiền tiêu xài và trả nợ nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt nên không giao xe trả cho ông D như đã hứa mà bị cáo mang đi cầm cố, không có khả năng trả lại tài sản và cắt đứt liên lạc với ông D. Giá trị tài sản theo Kết luận của Hội đồng định giá là 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng. Do đó, có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4]. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải xét xử nghiêm bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo một thời gian dài để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5]. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này thì bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 21/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 96/2023/HSPT-QĐ ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam) bị xử phạt 02 năm tù. Bản án này đã có hiệu lực pháp luật và bị cáo đang đi chấp hành án. Dù đây không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng Hội đồng xét xử cũng cân nhắc khi lượng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Về tổng hợp hình phạt: Ngày 24/02/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã xét xử đối với bị cáo V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với mức hình phạt 02 năm tù tại Bản án số 21/2023/HS-ST ngày 24/02/2023, sau đó có kháng cáo và rút kháng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam có Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 96/2023/HSPT-QĐ ngày 23/5/2023. Bản án đã có hiệu lực pháp luật, bị cáo đang thi hành án nên cần xem xét tổng hợp hình phạt trong bản án này.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại là ông Huỳnh Huy D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Công ty TNHH T3, trong quá trình giải quyết vụ án Công ty T3 có yêu cầu bị cáo V trả lại số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng đã nhận của Công ty T3. Ngày 29/5/2024, chị ruột của V là bà Trần Thị P trả cho Công ty T3 số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng. Công ty T3 xác nhận đã nhận tiền và không có yêu cầu gì liên quan đến việc cầm cố tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Đối với bà Nguyễn Thị Huệ A (vợ của V, đã ly hôn) khai nhận: Khoảng tháng 5/2022, bà A đã đưa điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus cho V sử dụng, bên trong điện thoại này có tài khoản, ứng dụng internet banking và mật khẩu tài khoản số 19036863448013 (Ngân hàng T4), tài khoản số 9704229209330888934 (Ngân hàng M). Từ đó đến nay, V là người trực tiếp quản lý, sử dụng hai tài khoản trên. Sau khi đưa cho V sử dụng thì bà A không còn sử dụng hai tài khoản này và bà A không biết V sử dụng hai tài khoản này vào mục đích gì. Quá trình V sử dụng 02 tài khoản trên để vay mượn tiền hay trả nợ cho ai bà A không biết. Do vậy, bà A không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[9]. Đối với ông Trần Đức K1 (nhân viên Công ty TNHH T3) nhận cầm cố xe máy của V: Do trước đây V đã nhiều lần đến tiệm C4 cầm cố tài sản và đều nhận lại đúng thời hạn cầm cố, ông K1 không biết đây là tài sản do V phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[10]. Trong quá trình điều tra, Công an đã tiến hành xác minh các giao dịch chuyển tiền từ 02 tài khoản số 19036863448013 ( Ngân hàng T4), tài khoản số 9704229209330888934 (Ngân hàng M) đến các tài khoản mà bị cáo V khai để trả nợ hoặc vay tiền (bao gồm: tài khoản 107876244750 tại Ngân hàng V2, chủ tài khoản Đỗ Thành T1; tài khoản số 48210001790097 tại Ngân hàng B1, chủ tài khoản Nguyễn Văn Đ; tài khoản số 7052797 tại Ngân hàng A1, chủ tài khoản Nguyễn Thị Kim C). Kết quả xác minh thể hiện bà C không sử dụng hay mở tài khoản nào tại Ngân hàng A1, không thực hiện bất kỳ giao dịch nào với bị cáo V. Còn ông T1 và ông Đ không rõ hiện nay đang ở đâu nên không thể lấy lời khai.
Ngoài ra, có giao dịch chuyển tiền 20.000.000 đồng ngày 31/10/2022 từ số tài khoản 0421000403422 tại Ngân hàng V3, chủ tài khoản Lâm Gia T2 đến tài khoản số 19036863448013 của Ngân hàng T4, chủ tài khoản Nguyễn Thị Huệ A (thể hiện trong hồ sơ vụ án là bị cáo V sử dụng và quản lý tài khoản này, bà A hoàn toàn không biết). Do ông T2 không còn cư trú tại địa phương theo thông tin trong Giấy mở tài khoản cá nhân nên Công an chưa thế lấy được lời khai ông T2.
Do đó, đối với ông Đỗ Thành T1, ông Nguyễn Văn Đ và ông Lâm Gia T2 đề nghị Công an tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.
[11]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo không có nơi cư trú ổn định, đang chấp hành án phạt tù tại trại giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[12]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Bản án số 21/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2022.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng
Bị cáo và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Thu Dung |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
