Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày 31-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Ken

Bà Nguyễn Thị Anh Đào

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở, Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo Trương Văn D ngày 06/4/1986, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T năm 1945 (chết) và bà Nguyễn Thị T1 năm 1944; bị cáo có vợ Lê Thị Ngọc H năm 1987 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Theo Quyết định số 2099/QĐ-XPHC, ngày 12/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện T Dbị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 9.000.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Theo Quyết định số 33/QĐ-XPHC, ngày 07/01/2019 của Công an huyện D bị cáo D1 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Ngày 05/02/2019 có hành vi đánh nhau bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng theo Quyết định số 94/QĐ-XPHC, ngày 26/4/2019. Bị cáo bị khởi tố vào ngày 21/02/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 09/5/2024, có mặt.
  2. Bị cáo Huỳnh Văn T2sinh ngày 08/10/2001, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh R năm 1969 và bà Lữ Thị É năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa

từng bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị khởi tố vào ngày 21/02/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 09/5/2024, có mặt.

  1. Bị cáo Trần Ngọc X ngày 10/10/1971, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2 năm 1929 (chết) và bà Huỳnh Thị T3 năm 1930; bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị Đ năm 1966 và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07/6/1997 bị Công an huyện T về hành vi trộm cắp tài sản công dân. Theo Quyết định số 78/QĐ-XPHC, ngày 10/02/2009 của Công an huyện Tbị cáo Xbị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Ngày 09/10/2017 bị Công an huyện T vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định số 260/QĐ-XPHC. Ngày 08/9/2022 bị Công an huyện T vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định số 125/QĐ-XPHC. Bị cáo bị khởi tố vào ngày 21/02/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 09/5/2024, có mặt.

Người làm chứng:

Ông Lê Văn N năm 1980. Nơi cư trú ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt

Ông Hồ Minh L năm 1997. Nơi cư trú ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

Ông Diệp S năm 1987. Nơi cư trú ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 08 giờ 20 phút ngày 06/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T kiểm tra, phát hiện có nhiều người tham gia đá gà, cá cược với nhau. Tại thời điểm kiểm tra thì trận gà đã đá xong, có kết quả thắng thua và đã giao nhận tiền cá cược. Khi thấy lực lượng Công an đến kiểm tra các đối tượng bỏ chạy khỏi hiện trường. Qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T Lê Văn N1 cáo Trương Văn D2 cáo Huỳnh Văn T2và bị cáo Trần Ngọc X1 Cơ quan điều tra, các đối tượng và bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc trái phép, cụ thể như sau:

  1. Bị cáo Trương Văn D3 nhận đã sử dụng địa điểm là khu đất trống cặp bờ kênh địa chỉ ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh(đất thuộc quyền quản lý của nhà nước) cho các đối tượng tụ tập tham gia đánh bạc, chuẩn bị 01 cân đồng hồ màu xanh, nhãn hiệu Nhơn H1loại 5kg dùng để cân gà, băng keo, hai cặp cựa gà bằng kim loại và 01 tấm kính bằng mica, kích thước khoảng 50 - 60cm dùng để chắn giữa 02 con gà trước khi thả cho đá với nhau, bị cáo D4 ra làm trọng tài (biện gà), phân định thắng thua cho hai bên chủ gà là ông Lê Văn N2 bị cáo Huỳnh Văn T4 cược với nhau nhằm mục đích thu tiền xâu (huê hồng). Đồng thời, bị cáo còn trực tiếp cá cược tiền theo bên gà của ông Lê Văn N3 tiền là 4.000.000 đồng, với bên

gà của bị cáo T5(trong đó, cá cược đá ăn đồng số tiền là 3.000.000 đồng và cá cược đá ăn 8 thua 10 số tiền là 1.000.000 đồng). Kết quả khi Cơ quan điều tra đến kiểm tra phát hiện bị cáo D5 được số tiền là 3.800.000 đồng và hưởng lợi ích (huê hồng) trong trận gà là 150.000 đồng. Tạm giữ của bị cáo D6 tiền cá cược, thắng cược và hưởng lợi ích trong trận gà là 7.950.000 đồng.

  1. Bị cáo Huỳnh Văn T6 nhận là chủ gà trực tiếp cá cược với ông N2 bị cáo D6 tiền là 5.400.000 đồng. Trong đó, cá cược với ông N3 tiền 1.600.000 đồng, cá cược với bị cáo D6 tiền 3.800.000 đồng (cá cược đá ăn đồng là 3.000.000 đồng và ăn tám là 800.000 đồng). Kết quả khi Cơ quan điều tra đến kiểm tra phát hiện bị cáo T2thua và đã giao đủ số tiền 5.400.000 đồng cho bị cáo D
  2. Bị cáo Trần Ngọc X2 nhận là người giúp sức cho bị cáo Huỳnh Văn T7 đánh bạc cá cược thắng thua bằng tiền với bị cáo D7 ông Ncụ thể: Bị cáo X3 việc bị cáo T2đánh bạc dưới hình thức đá gà cá cược thắng thua bằng tiền với người khác nhưng bị cáo X4 ý giúp sức bằng cách là quấn cựa bằng kim loại vào chân gà cho bị cáo T2và trực tiếp thả gà cho bị cáo T2để đá với gà của ông N4 đến khi kết thúc trận gà.
  3. Đối với ông Lê Văn N5 chủ gà sử dụng số tiền 1.600.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Kết quả khi Cơ quan điều tra đến kiểm tra phát hiện ông N6. Sau khi trừ tiền huê hồng thì bị cáo D8 cho ông N3 tiền là 1.450.000 đồng. Tạm giữ của ông N3 tiền là 3.050.000 đồng.

Như vậy, bị cáo Trương Văn D9 dụng số tiền để đánh bạc là 7.950.000 đồng, bị cáo T2sử dụng số tiền để đánh bạc là 5.400.000 đồng nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng đối với bị cáo Trần Ngọc X5 hành vi giúp sức cho bị cáo T2để đánh bạc cá cược thắng thua bằng tiền với người khác, do đó hành vi của bị cáo Xđồng phạm với bị cáo Huỳnh Văn T8 quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Ngày 08/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm giữ từ bị cáo Dsố tiền đánh bạc 7.950.000 đồng; 02 cặp cựa gà bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 cái cân đồng hồ màu xanh, nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen, loại bàn phím, sử dụng sim số 0962.569.220, đã qua sử dụng. Đối với 01 con gà trống tạm giữ của bị cáo T2đã chết nên tiến hành tiêu hủy theo quy định. Riêng đối với tấm kính bằng mica, kích thước khoảng 50 - 60cm, đã qua sử dụng của bị cáo D10 để chắn giữa hai con gà trước khi thả cho đá, 01 con gà trống của ông N2 các cuộn băng keo đã sử dụng, khi Cơ quan điều tra kiểm tra phát hiện các đối tượng, bị cáo bỏ chạy đã ném xuống kênh, con gà trống đã chết nên không thu giữ được, đã lập biên bản về việc không thu giữ được vật chứng.

Đối với ông Lê Văn N7 dụng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, về nhân thân ông N8 có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc. Hành vi của ông N9 vi phạm hành chính. Ngày 18/04/2024, Công an huyện T

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 51/QĐ-XPHC đối với ông Lê Văn N10 quy định của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ với số tiền phạt 1.500.000 đồng. Đồng thời tịch thu số tiền tham gia đánh bạc của ông N11 3.050.000 đồng sung nộp ngân sách nhà nước.

Tại Cáo trạng số 43/CT-VKS-HS, ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Trương Văn DHuỳnh V T2Trần Ngọc X6 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Văn DHuỳnh V T2Trần Ngọc X6 trình bày: Thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc trái phép như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố. Các bị cáo Trương Văn DHuỳnh V T2Trần Ngọc X7 nhận lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra là do các bị cáo tự nguyện khai ra mà không bị ai ép buộc hay dụ dỗ, các bị cáo không thay đổi lời khai.

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, vai trò, tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên được phân công giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo Trương Văn DHuỳnh V T2Trần Ngọc X6 phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trương Văn D11 từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Trà Vinhgiám sát, giáo dục.

Phạt bổ sung bị cáo D6 tiền 15.000.000 đồng.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Ngọc X8 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Trà Vinhgiám sát, giáo dục.

Phạt bổ sung bị cáo X9 tiền 10.000.00 đồng.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T9 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Trà Vinhgiám sát, giáo dục.

Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Văn T2số tiền 10.000.000 đồng

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu huỷ 02 cặp cựa gà bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 cái cân đồng hồ màu xanh, nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo D01 điện thoại di động,

nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen, loại bàn phím, sử dụng sim số 0962.569.220, đã qua sử dụng và số tiền 7.950.000 đồng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Trương Văn DHuỳnh V T2Trần Ngọc X6 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tự bào chữa, không phát biểu tranh luận

Các bị cáo nói lời sau cùng: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Xét thấy lời khai của bị cáo Trương Văn DHuỳnh V T2Trần Ngọc X6 tại phiên toà là phù hợp với nhau, phù hợp với thời gian các bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của người làm chứng là ông Lê Văn Nông Hồ Minh L1 ông Diệp S1 biên bản sự việc do Công an huyện T19 lập lúc 8 giờ 30 phút ngày 06/02/2024, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và các vật chứng thu giữ như cân đồng hồ, cựa gà bằng sắt. Qua tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ kết luận: Vào khoảng 08 giờ 20 phút ngày 06/02/2024, tại ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà VinhCác bị cáo Trương Văn DHuỳnh V T2Trần Ngọc X10 có hành vi đánh bạc trái phép cá cược thắng, thua bằng tiền (dưới hình thức chơi đá gà) cùng với ông Lê Văn N12 thì bị kiểm tra, phát hiện, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc bị tạm giữ là 7.950.000 đồng.
  2. [2] Bị cáo Trương Văn D11 trực tiếp cá cược tiền theo bên gà của ông Lê Văn N3 tiền 4.000.000 đồng đá ăn thua với bên gà của bị cáo T5(trong đó, cá cược đá tỷ lệ cược ăn đồng số tiền 3.000.000 đồng và cá cược tỷ lệ cược đá ăn 8 thua 10 số tiền 1.000.000 đồng). Kết quả khi Cơ quan điều tra đến kiểm tra phát hiện bị cáo D5 được số tiền 3.800.000 đồng. Như vậy, tiền dùng đánh bạc của bị cáo D12 định bằng 7.800.000 đồng. Đối với số tiền huê hồng trong trận gà này 150.000 đồng đây là tiền bị cáo D thu lợi bất chính.
  3. [3] Bị cáo Huỳnh Văn T2là một bên chủ gà trực tiếp cá cược với ông Lê Văn N2 bị cáo D6 tiền 5.400.000 đồng. Trong đó, cá cược với ông N3 tiền 1.600.000 đồng, cá cược với bị cáo D6 tiền 3.800.000 đồng. Khi Cơ quan điều tra đến kiểm tra phát hiện thì đã có kết quả thắng thua, bị cáo T2thua và đã giao đủ số tiền 5.400.000 đồng cho bị cáo D Như vậy, tiền dùng đánh bạc của bị cáo Huỳnh Văn T10 định bằng 5.400.000 đồng.
  4. [4] Bị cáo Trần Ngọc X6 là người giúp sức cho bị cáo T2để đánh bạc cá cược thắng, thua bằng tiền với bị cáo D7 ông N13 hành vi quấn cựa bằng kim loại vào chân gà giúp cho bị cáo T2và trực tiếp thả gà thay cho bị cáo T2để đá với gà của ông N4 đến khi kết thúc trận gà.
  5. [5] Hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo Trương Văn DHuỳnh V T2Trần Ngọc X6 đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương, đánh bạc trái phép là một trong các nguyên nhân làm phát sinh nhiều hệ lụy tiêu cực và phát sinh các loại tội phạm khác gây nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo đều nhận thức rõ mình thực hiện hành vi bị pháp luật cấm, gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Động cơ, mục đích của các bị cáo là nhằm thu lợi bất chính. Số tiền của bị cáo D, bị cáo T5 đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự mỗi người đều trên 5.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo Dbị cáo T2đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với bị cáo Trần Ngọc X5 hành vi giúp sức cho bị cáo T2để đánh bạc cá cược thắng thua bằng tiền với người khác; do đó hành vi của bị cáo X10 phạm vào tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với vai trò đồng phạm với bị cáo Huỳnh Văn T11 quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
  6. [6] Bị cáo D13 người chuẩn bị địa điểm đánh bạc, chuẩn bị 01 cân đồng hồ để cân gà, băng keo, 02 cặp cựa gà bằng kim loại và 01 tấm kính bằng mica, kích thước khoảng 50 - 60cm dùng để chắn giữa 02 con gà trước khi thả cho đá với nhau, bị cáo D14 trọng tài (biện gà), phân định thắng thua cho hai bên chủ gà là ông N2 bị cáo Huỳnh Văn T4 cược với nhau nhằm mục đích thu tiền xâu (huê hồng) nên có vai trò chính trong vụ án. Đồng thời, bị cáo D15 trực tiếp cá cược với gà bị cáo T12 cáo D và bị cáo X là người có nhân thân xấu, trong đó bị cáo D16 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Đối với bị cáo X10 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép nhưng vẫn tiếp tục vi phạm, các bị cáo Dvà X11 đủ điều kiện hưởng án treo. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Dbị cáo Xlà không có căn cứ pháp luật, không nghiêm nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
  7. [7] Đối với bị cáo Huỳnh Văn T13, có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự. Mặt dù, bị cáo T13 không bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, do sự việc đá gà đã kết thúc và bị cáo ra về, nhưng khi Cơ quan điều tra mời làm việc thì bị cáo T13 đã thành khẩn nhận tội, giúp Cơ quan điều tra kết thúc sớm vụ án. Bị cáo T2đủ điều kiện hưởng án treo và cho bị cáo hưởng án treo trong trường hợp này không ảnh xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, tạo điều kiện cho bị cáo theo học hết chương trình Cao đẳng cơ khí.
  8. [8] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quy mô số người tham gia đánh bạc ít, số tiền đánh bạc ở mức khởi điểm của khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định, trong đó bị cáo D17 không tính tiền thắng cược thì bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc cá

nhân chỉ bằng 4.000.000 đồng là dưới mức tối thiểu của Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định. Bị cáo X12 sức cho bị cáo T2nhưng không có động cơ thu lợi bất chính, bị cáo T2có nhân thân tốt. Bị cáo Dbị cáo Xcó học vấn thấp so với mặt bằng chung nên nhận thúc pháp luật có phần hạn chế. Xét đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng với các quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với từng bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, để cho các bị cáo hưởng sự khoan hồng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử không cách ly bị cáo Trương Văn D18 Trần Ngọc X6 ra khỏi xã hội, nhưng cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính một cách nghiêm khắc đối với các bị cáo, tác động đến lợi ích kinh tế của các bị cáo, để các bị cáo sửa chữa hành vi sai trái của mình mà từ bỏ hành vi đánh bạc. Nếu tái phạm sẽ bị nghiêm trị.

  1. [9] Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: số tiền đánh bạc 7.950.000 đồng thu giữ của bị cáo D13 tiền dùng vào việc đánh bạc trái phép và thu lợi bất chính, đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen, loại bàn phím, sử dụng sim số 0962.569.220, đã qua sử dụng là phương tiện dùng liên lạc nhau để đánh bạc trái phép nên cần phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 cái cân đồng hồ màu xanh, nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg, đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng, 02 cặp cựa gà bằng kim loại, đã qua sử dụng là vật cấm lưu hành cần tịch thu và tiêu huỷ.
  2. [10] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  3. [11] Trong quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có ai khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Qua kiểm tra và thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17 và Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn D19 tội “Đánh bạc” .

Xử phạt bị cáo Trương Văn D20 (Năm mươi triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17 và Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc X6 phạm tội “Đánh bạc” .

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc X13 (Ba mươi triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T14 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, giao bị cáo Huỳnh Văn T2cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Trà Vinhgiám sát, giáo dục. Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Văn T15 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Trường hợp bị cáo Huỳnh Văn T16 đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Huỳnh Văn T17 ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Huỳnh Văn T18 chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền đánh bạc 7.950.000 đồng và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen, loại bàn phím, sử dụng sim số 0962.569.220, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo D.

Tịch thu và tiêu huỷ 02 (hai) cặp cựa gà bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 cái cân đồng hồ màu xanh, nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trương Văn DHuỳnh V T2Trần Ngọc X6 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trương Văn DHuỳnh V T2Trần Ngọc X6 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Dương - đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger