Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày 31-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Kim Niệm;
  • Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nương, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Trung H, sinh năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không xác định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha mẹ ruột: Không xác định được; cha nuôi Trần V, sinh năm 1959 và mẹ nuôi Nguyễn Thị P, sinh năm 1961; bị cáo có 01 người em, sinh năm 1991; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 03/6/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 30/8/2023. Chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính.

Về nhân thân:

Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 282/2005/HSST ngày 21/7/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù. Căn cứ Công văn số 687/CV-TLC(HS) ngày 28/4/2024 và Phiếu thông tin phạm nhân của Trại giam T2 thuộc Cục C1 Bộ C2 xác nhận bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/3/2006.

Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2008/HSST ngày 15/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2009/HSST ngày 10/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt 08 năm tù của Bản án số 38/2008/HSST ngày 15/8/2008, buộc bị cáo H chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Căn cứ Giấy chứng nhận đặc xá số 999/GCNĐ X ngày 31/8/2013 của Trại giam A (T3) xác nhận được đặc xá kể từ ngày 31/8/2013. Căn cứ Biên bản xác minh ngày 14/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo xác nhận ngày 22/12/2010 bị cáo H đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm của hai bản án trên.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/12/2023 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại:

  1. Lô Thanh T, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  2. Ông Tống Văn C, sinh năm: 1984; địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  4. Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ, ngày 08/12/2023, H đi xe buýt từ bến xe B đến xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương để tìm kiếm tài sản trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi H đi đến khu vực ấp T, xã V nhìn thấy nhà của ông Nguyễn Thanh T1 khoá cổng, không ai trông coi nên H nảy sinh ý định đột nhập vào nhà anh T1 trộm cắp tài sản, H kêu xe buýt dừng lại để H xuống xe. Sau đó, H đi vào bãi đất trống sát bên nhà ông T1, H trèo tường vào bên trong nhà, khi lên mái nhà H dùng kiềm đem theo trước đó tháo ốc vít bắn tôn ra, dùng tay cạy tấm tôn, sau đó đột nhập vào trong nhà. H đi đến phòng ngủ lục tìm tài sản để trộm nhưng chưa trộm cắp được tài sản thì anh T1 về nhà nên H bỏ chạy ra ngoài thì bị ông T1 phát hiện bắt quả tang giao cho lực lượng Công an đưa về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra, Trần Trung H khai nhận trước đó vào ngày 15/11/2023, cũng bằng thủ đoạn tương tự, H bắt xe buýt đến địa bàn xã V, huyện P tìm kiếm nhà nào sơ hở trong quản lý tài sản để trộm cắp tài sản. Khi H đi đến nhà bà Lô Thanh T, tại tổ F, ấp V, xã V huyện P, tỉnh Bình Dương, H xuống xe buýt và trèo tường đột nhập vào nhà chị T, khi vào trong nhà, H lấy 01 cây đục có sẵn tại tầng hầm nhà chị T rồi đi lên tầng thứ nhất của nhà chị T, H sử dụng cây đục cậy cữa một phòng trên tầng một vào trong lấy trộm số tiền mặt là 44.800.000 đồng, 01 (một) lắc tay bạch kim, trọng lượng 08 gram, 01 (một) nhẫn bạch kim, trọng lượng 4.5 gram; 01 dây chuyền nhỏ bằng bạch kim, trọng lượng 03gram; 01 dây chuyền và 01 mặt dây chuyền bằng bạch kim, trọng lượng 04 gram đựng trong túi sách màu xám. Sau khi trộm cắp tài sản H bỏ đi và bán số trang sức trộm được cho một tiệm vàng tại Quận H, thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ tên tiệm, địa chỉ cụ thể) được hơn 10.000.000 đồng (không nhớ cụ thể số tiền) rồi H tiêu xài hết số tài sản trên.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ của bị cáo H số tiền 1.418.000 đồng. 01 kìm bấm làm bằng kim loại nhãn hiệu Mean Fast màu đỏ đen.

Bản kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 (một) lắc tay bạch kim, trọng lượng 08 gram có giá trị 13.600.000 đồng; 01 (một) nhẫn bạch kim, trọng lượng 4,5 gram có giá trị 7.650.000 đồng; 01 (một) dây chuyền bằng bạch kim, trọng lượng 03 gram có giá trị 6.800.000 đồng; 01 (một) dây chuyền và 01 (một) mặt dây chuyền bạch kim, trọng lượng 04 gram có giá trị 5.100.000 đồng. Tổng giá trị số vàng là 33.150.000 đồng. Vậy tổng giá trị tài sản là 77.950.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 389/CT-VKSPG, ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Trần Trung H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố và bổ sung phần nhân thân của bị cáo H theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 282/2005/HSST ngày 21/7/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù. Căn cứ Công văn số 687/CV-TLC(HS) ngày 28/4/2024 và Phiếu thông tin phạm nhân của Trại giam T2 thuộc Cục C1 Bộ C2 xác nhận bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/3/2006, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Trung H mức hình phạt từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ yêu cầu của các bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) kìm bấm bằng kim loại nhãn hiệu Mean Fast màu đỏ đen. Đây là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trung H thừa nhận hành vi phạm tội, khoảng 13 giờ, ngày 08/12/2023 tại nhà ông Nguyễn Thanh T1 thuộc ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà ông T1 tìm kiếm tài sản trộm cắp nhưng bị cáo H chưa trộm cắp được tài sản thì bị ông T1 phát hiện bắt quả tang. Trước đó, vào ngày 15/11/2023, tại tổ F, ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo H đã có hành vi lén lút trộm cắp của vợ chồng bà Lô Thanh T và ông Tống Văn C số tiền 44.800.000 đồng và các loại trang sức gồm: 01 (một) lắc tay bạch kim, trọng lượng 08 gram có giá trị 13.600.000 đồng; 01 (một) nhẫn bạch kim, trọng lượng 4,5 gram có giá trị 7.650.000 đồng; 01 (một) dây chuyền bằng bạch kim, trọng lượng 03 gram có giá trị 6.800.000 đồng; 01 (một) dây chuyền và 01 (một) mặt dây chuyền bạch kim, trọng lượng 04 gram có giá trị 5.100.000 đồng; tổng giá trị số vàng là 33.150.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo H trộm cắp được của vợ chồng bà T và ông C là 77.950.000 đồng. Bị cáo thống nhất với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản, tội danh và mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến khác.

Bị hại bà Lô Thanh T và ông Tống Văn C vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra, nội dung đơn xin xét xử vắng mặt khai nhận chính bị cáo Trần Trung H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bà T và ông C, bị hại bà T và ông C xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 77.950.000 đồng; ngoài ra, không có yêu cầu khác.

Các bị hại ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc M vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên trước khi xét xử sơ thẩm có đơn xin xét xử vắng mặt khai nhận chính bị cáo Trần Trung H đã có hành vi lén lút vào nhà trộm cắp tài sản nhưng chưa lấy được tài sản thì bị phát hiện bắt giữ, bị hại ông T1 và bà M có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường; ngoài ra, không có yêu cầu khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Trung H: Bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về nội dung vụ án: Khoảng 13 giờ, ngày 08/12/2023 tại nhà ông Nguyễn Thanh T1 thuộc ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà ông T1 tìm kiếm tài sản trộm cắp nhưng H chưa trộm cắp được tài sản thì bị ông T1 phát hiện bắt quả tang. Trước đó, vào ngày 15/11/2023, tại tổ F, ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp của vợ chồng bà Lô Thanh T và anh Tống Văn C số tiền 44.800.000 đồng và các loại trang sức gồm: 01 (một) lắc tay bạch kim, trọng lượng 08 gram có giá trị 13.600.000 đồng; 01 (một) nhẫn bạch kim, trọng lượng 4,5 gram có giá trị 7.650.000 đồng; 01 (một) dây chuyền bằng bạch kim, trọng lượng 03 gram có giá trị 6.800.000 đồng; 01 (một) dây chuyền và 01 (một) mặt dây chuyền bạch kim, trọng lượng 04 gram có giá trị 5.100.000 đồng; tổng giá trị số vàng là 33.150.000 đồng.
  3. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 (một) lắc tay bạch kim, trọng lượng 08 gram có giá trị 13.600.000 đồng; 01 (một) nhẫn bạch kim, trọng lượng 4,5 gram có giá trị 7.650.000 đồng; 01 (một) dây chuyền bằng bạch kim, trọng lượng 03 gram có giá trị 6.800.000 đồng; 01 (một) dây chuyền và 01 (một) mặt dây chuyền bạch kim, trọng lượng 04 gram có giá trị 5.100.000 đồng; tổng giá trị số vàng là 33.150.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 77.950.000 đồng.
  4. Hành vi của bị cáo Trần Trung H lợi dụng sự thiếu cảnh giác của chủ sở hữu đã chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng giá trị tài sản là 77.950.000 đồng, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
  5. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Trần Trung H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  6. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
  7. Xét hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
  8. Về nhân thân: Bị cáo Trần Trung H có nhân thân xấu do đã bị Tòa án nhân dân xét xử nhiều bản án xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tội “Trốn khỏi nơi giam” và có tiền sự lại tiếp tục phạm tội.
  9. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  10. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Trung H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội trước đó, bị cáo có trình độ học vấn thấp, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  11. Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
  12. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo Trần Trung H bồi thường. Xét ý kiến của các bị hại là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận.
  13. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) kìm bấm làm bằng kim loại nhãn hiệu Mean Fast màu đỏ đen.
  14. Về biện pháp tư pháp: Tiếp tục quản thủ số tiền 1.418.000 đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  15. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Trung H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/12/2023.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) kìm bấm làm bằng kim loại nhãn hiệu Mean Fast màu đỏ đen.

    Vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2024.

  4. Về biện pháp tư pháp: Tiếp tục quản thủ số tiền 1.418.000 đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án theo Ủy nhiệm chi nộp tiền vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước huyện P số 3949.0.1045902 00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo ngày 04/4/3024.
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Trung H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án của Tòa án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;01
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;01
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;01
  • - PV06 Công an tỉnh Bình Dương;01
  • - VKSND H. Phú Giáo;01
  • - CQCSĐT Công an H. Phú Giáo;03
  • - Đội CSTHAHS và HTTP:03
  • - UBND xã Vĩnh Hòa, H. Phú Giáo, T. Bình Dương (thay thông báo)01
  • - Chi cục THADS H. Phú Giáo;01
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;07
  • - Lưu: HS, VP.02

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trung H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger