|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2023/HS-ST
Ngày 30-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phúc;
Bà Nguyễn Thị Ánh Gương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Tâm, Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2023/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HS ngày 13/11/2023, đối với bị cáo:
Trần Thị Mười M, sinh năm: 1977, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L, sinh năm: 1942 (đã chết) và bà Lê Thị Cà C, sinh năm: 1950 (đã chết); Chồng: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1978 (chồng thứ nhất, đã ly hôn); Chồng: Nguyễn Phương B, sinh năm: 1978 (chồng thứ hai, đã ly hôn); Bị cáo có 3 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2011;
Tiền sự: Không.
Tiền án: 01; Ngày 13/6/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm), chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2020, đóng án phí ngày 14/02/2019.
Nhân thân: Ngày 30/11/2010 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 239/PT; Ngày 29/3/2012 Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 24/ST; Ngày 15/11/2013 Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 66/ST; Ngày 11/5/2021 Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 130/ST; Ngày 24/8/2022 Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 252/HSST, chấp hành hình phạt tù xong ngày 22/7/2023.
Tạm giữ: Ngày 22/7/2023;
Tạm giam: Ngày 25/7/2023.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.
- Bị hại:
- Chị Trần Thị Mỹ D, sinh năm: 1983;
- Chị Lê Thị K, sinh năm: 1989.
Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
Nơi cư trú: Số B, đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Thái Anh K1, sinh năm: 1979;
- Anh Trần Văn M1, sinh năm: 1974.
Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
Nơi cư trú: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Thái Văn D1, sinh năm 1965, nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, là người làm chứng, vắng mặt.
- Anh Phạm Văn C1, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Số B, đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, là người làm chứng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Thị Mười M có nhiều tiền án về tội Trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành xong hình phạt tù, không biết ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi tội phạm, cụ thể như sau:
- Vụ thứ 1: Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 14/6/2020, bị cáo Mười M điều khiển xe mô tô biển số 66F1 - 435.21, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu đỏ-đen-bạc từ nhà thuộc ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đi thành phố H, tỉnh Đồng Tháp để lấy quần áo về bán. Trên đường đi, đến khoảng 09 giờ cùng ngày, bị cáo Mười M ghé ngang cửa hàng bán quần áo của chị Lê Thị K thuộc ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để tìm quần áo mua về bán lại.
Vào tiệm, bị cáo Mười M thấy cửa hàng không người trông coi, có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, loại 6S Plus đang sạc pin treo trên sào quần áo, gần cửa sổ phía sau trong nhà, bị cáo đi vào dùng tay lấy điện thoại trên để vào trong nón bảo hiểm của mình và đi ra ngoài trước cửa hàng quần áo, lúc này chị K bước ra gặp hỏi cần mua loại quần áo gì, bị cáo trả lời không có loại quần áo cần mua rồi bỏ đi và lấy điện thoại vừa trộm để vào túi áo khoác bên phải, điều khiển xe mô tô đi đến cửa hàng Đ thuộc khóm C, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp bán cho anh Thái A Khoa là chủ tiệm với giá 400.000 đồng. Sau đó chị K vào kiểm tra, phát hiện điện thoại IPHONE 6S Plus của mình đã bị mất trộm nên đến Công an xã A trình báo sự việc nêu trên.
- Vụ thứ 2: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17/6/2020, bị cáo Mười M điều khiển xe mô tô biển số 66F1 - 435.21 đến tiệm làm tóc (không nhớ rõ tên) thuộc ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp của chị Trần Thị Mỹ D để gội đầu; khi đi vào tiệm, bị cáo thấy có 02 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màn hình cảm ứng, màu đen (không nhớ loại máy) đang sạc pin để trên bàn chứa dụng cụ làm tóc sát vách nhà bên phải hướng từ ngoài nhìn vào, lợi dụng sơ hở, bị cáo lấy 02 điện thoại trên để vào túi áo khoác bên phải, sau đó điều khiển xe mô tô đến tiệm Đ1 bán cho anh K1 với giá 500.000 đồng. Sau khi chị D quay về nhà, phát hiện 02 điện thoại của mình bị mất nên đến Công an xã A trình báo sự việc.
Đến ngày 21/6/2020, anh Phạm Văn C1 là chồng của chị K phát hiện bị cáo Mười M điều khiển xe mô tô biển số 66F1 - 435.21 có đặc điểm giống như người phụ nữ trộm điện thoại của chị K nên đuổi theo đến thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên chặn lại và báo cho Công an xã A đến mời bị cáo Mười M về làm việc.
Kết luận định giá tài sản số 29/BKLĐG, ngày 23/6/2020 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu IPHONE, loại 6S Plus cảm ứng màu vàng đồng, đã qua sử dụng, trị giá: 3.700.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 30/BKLĐG, ngày 24/6/2020 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, loại NOKIA 3 cảm ứng, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá: 700.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 32/BKLĐG, ngày 03/8/2020 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, loại NOKIA 2.1 Blue Copper, màn hình cảm ứng, màu đen đã qua sử dụng, trị giá: 800.000 đồng.
Tang vật thu giữ đã xử lý gồm: Thu giữ và đã trao trả lại cho chị Lê Thị K 01 điện thoại di động hiệu IPHONE, loại 6S Plus cảm ứng màu vàng đồng, đã qua sử dụng; thu giữ và đã trao trả cho chị Trần Thị Mỹ D 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, loại NOKIA 3 cảm ứng, màu đen, đã qua sử dụng; thu giữ và đã trao trả cho anh Trần Văn M1 (anh ruột bị cáo Mười M) là chủ sở hữu xe môtô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave (màu đỏ-đen-bạc), biển số biển số 66F1-435.21, số khung 1253FY216895, số máy HC12E7216933 đã qua sử dụng, do anh M1 cho bị cáo mượn, anh M1 không biết việc bị cáo dùng tài sản trên để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả kiểm tra và thu giữ nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS-TN ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Thị Mười M từ 03 đến 04 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đã trao trả xong.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Mười M đem 03 điện thoại di động trộm được bán cho anh Thái A Khoa với tổng số tiền 900.000 đồng; Anh K1 đã bán cho khách 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, loại 2.1 Blue Copper với giá 400.000 đồng; sau đó anh K1 tự nguyện giao nộp 02 điện thoại di động còn lại cho Cơ quan điều tra; bị cáo đã tự nguyện khắc phục số tiền 500.000 đồng đối với 02 điện thoại di động giao nộp, anh K1 thống nhất, không yêu cầu thêm nên không đặt ra giải quyết.
Đối với anh Trần Văn M1 là anh ruột của bị cáo Mười M, chủ sở hữu xe môtô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave (màu đỏ-đen-bạc), biển số biển số 66F1-435.21, số khung 1253FY216895, số máy HC12E7216933 đã qua sử dụng, xe này do anh cho bị cáo mượn, anh M1 không biết việc bị cáo dùng tài sản trên để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không đặt ra giải quyết.
Ngày 25/8/2023 bị hại chị Trần Thị Mỹ D yêu cầu bị cáo Mười M bồi thường 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, loại 2.1 Blue Copper không thu hồi được; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục số tiền 800.000 đồng; chị D thống nhất, không yêu cầu thêm nên không đặt ra giải quyết.
Đối với chị Lê Thị K đã nhận lại 01 điện thoại di động hiệu IPHONE, loại 6S Plus cảm ứng màu vàng đồng, đã qua sử dụng xong và chị không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị Trần Thị Mỹ D; chị Lê Thị K; anh Thái Anh K1; anh Trần Văn M1 vắng mặt trong biên bản lấy lời khai trình bày: Không yêu cầu gì trong vụ án này nên không đặt ra giải quyết.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận toàn bộ hành vi và thống nhất tội danh theo Viện kiểm sát đã truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, cũng như tại Công an xã A, huyện T và Tại Cơ quan điều tra huyện T, bị cáo Trần Thị Mười M thừa nhận toàn bộ hành vi đúng diễn biến như Bản cáo trạng đã truy tố và thống nhất tội danh mà Kiểm sát viên đề nghị cụ thể; bị cáo đã trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, loại 6S Plus của chị Lê Thị K và lấy trộm 02 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màn hình cảm ứng, màu đen (không nhớ loại máy) của chị Trần Thị Mỹ D bán cho anh Thái A Khoa là chủ cửa hàng Đ. Qua kết luận định giá, tổng số tài sản bị cáo Mười M lén lút chiếm đoạt là 5.200.000 đồng.
Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
a).......
g) Tái phạm nguy hiểm.
Tình tiết tăng nặng: “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1, điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo được quy định tại điểm b, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định thì bị cáo có việc làm nhưng thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản có giá trị nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Hành vi của bị cáo mang tính nguy hiểm cho xã hội, cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi cố ý trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, hành vi phạm tội lần này là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên cần thiết phải xử lý để có tác dụng giáo dục và răn đe tội phạm.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả và ý thức phạm tội của bị cáo, nghĩ cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để được giáo dục trở thành công dân tốt, có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về vật chứng: Đã trao trả xong cho bị hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phần tranh luận có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g, khoản 1, điều 52; điểm b, s, khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị Mười M phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Về án phí: Bị cáo Trần Thị Mười M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Mười M 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 22/7/2023).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoàng Giang |
Bản án số 49/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 49/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị Cáo Trần Thị Mười Một
