|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 49/2023/HS-ST Ngày 30 - 10 - 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Xuân Tiến;
- Ông Nguyễn Văn Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện N.
- Đại diện VKS nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2023/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tống Xuân C, sinh năm: 1986; nơi cư trú: Xóm 2 V, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định. nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Xuân C, sinh năm 1962; con bà Trần Thị K, sinh năm 1966; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ, con
Tiền án: Ngày 24/3/2022, bị Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 18/01/2023;
Tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 15/02/2017 Tòa án nhân dân huyện N ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiệm bắt buộc, thời hạn chấp hành 24 tháng, ngày 18/02/2019 chấp hành xong.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 12/9/2023 đến ngày 15/9/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 12/9/2023, Công an xã T, huyện N làm nhiệm vụ tại khu vực đường liên thôn thuộc xóm 2 V, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định, phát hiện bị cáo Tống Xuân C đang đi bộ trên đường, có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính về người, quá trình kiểm tra tổ công tác đã thu giữ tại lòng bàn tay trái của bị cáo 01 gỏi nhỏ giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục mà trắng, bị cáo khai là Heroine, bị cáo mua lúc 14 gời 30 phút của một người đàn ông không quen biết tại thị trấn Cổ Lễ với giá 100.000 đồng, bị cáo cầm trên tay đón xe buýt về nhà, khi bị cáo đang đi đến khu vực xóm 2 thôn V thì bị phát hiện bắt giữ. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, đưa bị cáo về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng thu giữ ký hiệu M. Sau đó công an xã T giao bị cáo kèm theo hồ sơ và vật chứng cho Công an huyện N giải quyết theo thẩm quyền
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo, không thu giữ đồ vật gì.
Tại Bản kết luận giám định số: 1406/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu vật được niêm phong ký hiệu M là ma túy; loại Heroine; khối lượng 0,113 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Tống Xuân C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Tống Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt Tống Xuân C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;
- - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua ma túy về để sử dụng nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng được niêm phong trong 01 phong bì số 1406/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định;
- - Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang ngày 12 tháng 9 năm 2023, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định số: 1406/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 12/9/2023, tại khu vực đường liên thôn thuộc xóm 2, V, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định, Công an xã T, huyện N đã phát hiện bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép 0,113gam Heroine trong lòng bàn tay trái, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự;
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương và sự phát triển chung của xã hội, là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của ma túy, hơn nữa bị cáo đã bị đưa ra xét xử về tội ma túy. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để từ bỏ thói hư, tật xấu, khắc phục sửa chữa trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cố ý mua ma túy về sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Tái phạm" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
[5] Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo nhân thân xâu bản thân nghiện ma túy từ lâu, năm 2017 đã được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 năm và năm 2022 lại bị bắt về hành vi “Tàng trữ trái phép chấp ma túy” bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù, ngày 18/01/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về với gia đình và xã hội nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học từ bỏ ma túy mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ để giáo dục, cải tạo riêng và răn đe phòng ngừa chung, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, mua ma túy về để sử dụng nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ngày 12/9/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện N không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
[8] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo được niêm phong trong 01 phong bì thư số: 1406/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định ghi hoàn trả sau giám định là chất cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Tống Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Tống Xuân C 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2023.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo trong 01 phong bì thư số: 1406/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định ghi hoàn trả sau giám định (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2023 giữa cơ quan Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ánh |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lưu Xuân Tiến |
Nguyễn Văn Hà |
Nguyễn Thị Ánh |
Bản án số 49/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 49/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 12/9/2023, tại khu vực đường liên thôn thuộc xóm 2, V, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định, Công an xã T, huyện N đã phát hiện bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép 0,113gam Heroine trong lòng bàn tay trái, với mục đích để sử dụng cho bản thân
