Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LAI VUNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/DS-ST

Ngày: 30-7-2024.

V/v tranh chấp dân sự về hợp

đồng mua bán.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phát Triển;

Bà Quang Kim Cúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Phương Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên toà: Bà

Lê Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 07 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST-DS ngày 16/05/2024, “V/v tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-DS, ngày 27 tháng 06 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 314/2024/QĐST-DS ngày 12/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1980 (có mặt); Địa chỉ: Số nhà G, ấp Đ, xã Đ, huyện L, Đồng Tháp.
  2. Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1973 (vắng mặt); Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1972 (vắng mặt); Địa chỉ: Số nhà B ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Trần Văn H trình bày:

Ngày 12/05/2023 Trần Văn H bán cho ông Lê Văn T và bà Phạm Thị H1 1.700kg cá lóc (1.500kg cá loại 1 giá 42.000 đồng, 200kg cá loại 2 giá 30.000 đồng), với tổng số tiền là 69.000.000 đồng, đã trả 32.300.000 đồng, còn nợ 36.700.000 đồng. Khi mua bán không có hợp đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, số tiền nợ không biên nhận, ông Trần Văn H thỏa thuận bán cá cho bà Phạm Thị H1, loại cá lóc nuôi, bà H1 là người mua, cân cá, ông Lê Văn T chồng bà H1 là người chở cá, vận chuyển cá lúc mua bán cá tại ao của ông H. Ông Lê Văn T và bà Phạm Thị H1 hẹn nhiều lần nhưng không trả, đến ngày 13/10/2023 ông H nhờ Ban nhân ấp H, xã L hòa giải, tại phiên hòa giải có mặt ông T, ông T thừa nhận nợ, có viết Tờ cam kết hẹn đến ngày 13/01/2024 trả dứt nợ là 36.700.000 đồng nhưng đến nay chưa trả.

Trần Văn H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn T và bà Phạm Thị H1 trả lại cho ông Trần Văn H số tiền mua cá còn nợ là 36.700.000₫ (Ba mươi sáu triệu bảy trăm ngàn đồng), không yêu cầu tính lãi.

* Bị đơn Lê Văn T, Phạm Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng.

* Theo biên bản xác minh ngày 28/06/2024 ông Phan Văn T1 là tổ trưởng tổ hòa giải ấp H trình bày: Ông Trần Văn H làm đơn gửi tổ hòa giải ấp H, hòa giải giải quyết bà Phạm Thị H1 trả cho ông H tiền mua cá còn nợ là 36.700.000 đồng. Ngày 13/10/2023 tại buổi hòa giải không có mặt bà H1, có mặt ông Lê Văn T là chồng bà H1 đi thay cho bà H1, ông T thừa nhận có đến vận chuyển cá (chở cá) vào thời gian ông H bán cá tại ao nuôi cá của ông H nhưng việc mua bán cá do bà H1 trực tiếp thỏa thuận nên ông T không biết cụ thể nợ tiền của ông H là bao nhiêu, sau đó ông T điện thoại với bà H1 như thế nào không rõ, ông T thừa nhận còn nợ ông Trần Văn H 36.700.000 đồng, đồng thời tại buổi hòa giải ông Lê Văn T tự viết Tờ cam kết hẹn đến ngày 13/01/2024 sẽ trả một lần xong hết số tiền nợ cho ông Trần Văn H.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung phát biểu quan điểm:

  • - Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Bị đơn vắng mặt, chưa chấp hành theo các văn bản tố tụng của Tòa án.
  • - Về phần nội dung: Về đường lối giải quyết vụ án, Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp thực tế, đúng quy định pháp luật (có bài phát biểu kèm theo lưu hồ sơ).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Trần Văn H khởi kiện yêu cầu Lê Văn T, Phạm Thị H1 liên đới trả tiền mua cá còn nợ, đây là vụ án tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán. Các đương sự cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp, cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Lê Văn T, Phạm Thị H1 đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Trần Văn H yêu cầu Lê Văn T, Phạm Thị H1 liên đới trả cho Trần Văn H tiền mua cá còn nợ là 36.700.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi.

Chứng cứ chứng minh là Tờ cam kết ngày 13/10/2023 do ông Lê Văn T tự viết, ký tên và ghi họ tên; Biên bản hòa giải thành ở cơ sở ngày 13/10/2023.

Bị đơn Lê Văn T, Phạm Thị H1 Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho bị đơn Lê Văn T, Phạm Thị H1 biết Trần Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Lê Văn T, Phạm Thị H1 liên đới trả tiền còn nợ vốn là 36.700.000 đồng nhưng Lê Văn T, Phạm Thị H1 không đến Tòa án cũng không có văn bản phản bác gì đối với yêu cầu của nguyên đơn điều đó thể hiện bị đơn Lê Văn T, Phạm Thị H1 tự từ bỏ quyền phản bác của mình. Tòa án căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, theo như trình bày của ông Trần Văn H, lời trình bày của ông Phan Văn T1, Tờ cam kết ngày 13/10/2023 có chữ ký tên, ghi họ tên của ông Lê Văn T và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Phạm Thị H1, Ông Lê Văn T có mua cá lóc của ông Trần Văn H, còn nợ ông H 36.700.000 đồng đến nay chưa trả. Từ những chứng cứ có trong hồ sơ, xét yêu cầu của nguyên đơn Trần Văn H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Trần Văn H là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Từ những nhận định và phân tích trên, xét yêu cầu của nguyên đơn Trần Văn H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Trần Văn H buộc Lê Văn T, Phạm Thị H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Trần Văn H, tiền vốn còn nợ là 36.700.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 357, khoản 1 Điều 440 Bộ luật dân sự.

Tại Điều 430 Bộ luật dân sự quy định:

“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán"...

Tại khoản 1 Điều 440 Bộ luật dân sự quy định:

“1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng”.

Đối với tiền lãi ông Trần Văn H không yêu cầu nên Hồi đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Xét thấy ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ thống nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[6] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 430, Điều 433, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Trần Văn H về việc yêu cầu Lê Văn T, Phạm Thị H1 liên đới trả nợ.
  2. Buộc Lê Văn T, Phạm Thị H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Trần Văn H số tiền vốn còn nợ 36.700.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, bảy trăm nghìn đồng), không yêu cầu tiền lãi.
  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) mà người phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Án phí, tạm ứng án phí:
    1. Lê Văn T, Phạm Thị H1 liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.880.000 đồng (Một triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng).
    2. Hoàn trả lại cho Trần Văn H số tiền 918.000 đồng (Chín trăm mười tám nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001663, ngày 16/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
  5. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/07/2024). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - CC THADS huyện Lai Vung;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 49/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger