Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày: 30-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mi Mi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Văn Minh
  2. Ông Nguyễn Thanh Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích T – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 16/5/2024, đối với bị cáo:

BÙI MINH TIẾN

Sinh năm: 1995; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú và chỗ ở: Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Bùi Minh H (chết) và bà Châu Thị T1; Vợ: Trần Thị H1, sinh năm 1997 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

Ngày 20/4/2018, bị Công an huyện H ra quyết định xử phạt vi phạt hành chính số 0026225 về hành vi trộm cắp tài sản, hình phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng.

Ngày 29/10/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 38/QĐ-TA, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 11/9/2019.

Ngày 16/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 70/2020/QĐ-TA, thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 30/11/2021.

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H từ ngày 12/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Châu Thị T1 – Sinh năm 1963 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 18 giờ 40 phút ngày 25/12/2023 Bùi Minh T2, nhờ một người tên T3 (chưa rõ nhân thân) mua ma túy đá với giá 500.000 đồng, T3 nói T2 đi đến khu vực đường H để lấy ma túy. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Bùi Minh T2 điều khiển xe mô tô, biển số 86C2-078.18 từ nhà ở khu phố E, phường P đến khu vực đường H thì gặp một người đàn ông chạy xe ôm đưa cho T2 01 gói nylon không màu, bên trong có ma túy đá, T2 trả cho người xe ôm này 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T2 điều khiển xe mô tô theo hướng xã H, huyện H tìm nơi để sử dụng. Khi T2 điều khiển xe đến tuyến đường nhựa, thuộc thôn K, xã H thì bị tổ công tác Công an xã H yêu cầu dừng xe tiến hành kiểm tra, lúc này T2 cầm gói ma túy trong tay trái, khi thấy lực lượng công an kiểm tra T2 đã ném gói nylon xuống đường. Tổ công tác tiến hành thu giữ 01 gói nylon không màu có khóa kéo một đầu màu đỏ, kích thước (4,4 x 7,4)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (Mẫu M), T2 khai nhận là ma túy đá, mục đích để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ và đưa T2 về trụ sở làm việc. Tại đây, T2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận giám định số 1531/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,1946 gam; là Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

01 gói nylon không màu, một đầu có khóa ép viền đỏ cùng 1,1255 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1531, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.

01 xe mô tô, biển số 86C2- 078.18 do bà Châu Thị T1 (mẹ của T2) đứng tên chủ sở hữu, bị cáo T2 dùng để đi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy bà T1 không biết. Cơ quan cảnh sát điều tra -Công an huyện H đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe cho bà Châu Thị T1 là chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSHTB ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo Bùi Minh T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Đ c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Bùi Minh T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phạt Bùi Minh T2 từ 12 tháng đến 15 tháng tù;

Áp dụng: Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa ép viền đỏ cùng 1,1255 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1531, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B là vật chứng của vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Minh T2 khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, biên bản ghi nhận sự việc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 25/12/2023, tại tuyến đường nhựa thuộc thôn K, xã H, tổ công tác Công an xã H phát hiện bị cáo T2 đang điều khiển xe mô-tô biển số 86C2-078.18 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu T2 dừng xe kiểm tra hành chính, phát hiện T2 có hành vi tàng trữ 01 gói nylon không màu có khóa kéo một đầu màu đỏ, kích thước (4,4 x 7,4)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, qua giám định có khối lượng 1,1946 gam là Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi trên của bị cáo Bùi Minh T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo T2 có hành vi tàng trữ 1,1946 gam Methamphetamine để sử dụng không nhằm mục đích mua bán nên tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo T2 khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.

Căn cứ tính chất và mức độ phạm tội thì hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây hại đến sức khỏe con người và cộng đồng, gây mất an ninh trật tự địa phương là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu nhưng vẫn không từ bỏ thói hư tật xấu của mình tiếp tục phạm tội. Do đó, cần thiết phải lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô-tô biển số 86C2- 078.18 do bà Châu Thị T1 (chủ sở hữu), bị cáo T2 dùng xe để đi mua ma túy, bà T1 không biết. Cơ quan cảnh sát điều tra -Công an huyện H đã trả lại xe cho bà Châu Thị T1 là chủ sở hữu, nên Tòa không xem xét giải quyết.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa ép viền đỏ cùng 1,1255 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1531, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B là vật chứng của vụ án, hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 07/5/2024.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với lời khai của bị cáo T2 về việc mua ma túy của một người tên T3 nhưng không đủ thông tin để xác minh làm rõ.

Bị cáo Bùi Minh T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bùi Minh T2 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa ép viền đỏ cùng 1,1255 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1531, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 07/5/2024.

Về án phí: Bị cáo Bùi Minh T2 phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/5/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mi Mi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger