TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 8 - 2024
“V/v: Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư
2. Bà Nguyễn Thị Vượng
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ- Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 102/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11/04/2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/7/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Dương Văn H, sinh năm 1966 (vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số nhà A, ngõ C, đường N, tổ A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 04 tháng 3 năm 2024, bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Dương Văn H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Thúy V kết hôn với nhau ngày 29/12/1992, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn hai người được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống cùng nhau, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh khoảng 10 năm trở lại đây, do kinh tế gia đình, bất đồng trong cuộc sống, dẫn đến vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã chửi nhau, bà V còn đánh ông nhiều lần. Ngoài ra, bà V còn xô xát với mẹ đẻ ông, vợ chồng bất đồng quan điểm, không quan tâm tới nhau. Vợ chồng ly thân từ tháng 07/2023, từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai, hiện bà V sống ở nơi khác, ông không biết địa chỉ cụ thể do bà V không cung cấp. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông đề nghị Toà án cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy V.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Dương Hùng C, sinh ngày 03/4/1995 và cháu Dương Nhật H1, sinh ngày 23/10/2000. Hiện các con đã trưởng thành và phát triển bình thường nên ông không đề nghị Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Ông không đề nghị Toà án giải quyết.
* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy V: Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng nhưng không được, kết quả xác minh cho thấy bà V đăng ký hộ khẩu cư trú tại địa chỉ nơi ông H cung cấp, hiện chưa chuyển khẩu đi nơi khác, tuy nhiên, không ai biết bà V hiện đang cư trú ở đâu, do đó Tòa án đã niêm yết toàn bộ các văn bản tố tụng của Toà án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bà V không đến Toà án làm việc, không có bản tự khai, không tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải là không thực hiện đầy đủ, đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
* Kết quả xác minh với đại diện chính quyền địa phương, ông Vũ Văn T – Tổ trưởng Tổ dân phố A, phường T, thành phố B cung cấp:
Ông Dương Văn H, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 1973 đều có hộ khẩu thường trú tại: Số nhà A, ngõ C, tổ A, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Ông H và bà V kết hôn năm 1992, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B. Trong quá trình chung sống, ông H, bà V có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng còn xuất phát từ việc mâu thuẫn giữa mẹ đẻ ông H và bà V. Bà V đã bỏ đi nơi khác sinh sống tới khoảng cuối năm 2023 cho đến nay, hiện ông H và bà V không còn chung sống với nhau nữa. Bà V đi khỏi địa phương nhưng không báo cáo chính quyền địa phương là đi đâu, làm gì, ở đâu nên địa phương không nắm được địa chỉ cụ thể. Ông H và bà V có 02 con chung là cháu Dương Hoàng C1, sinh năm 1995 và cháu Dương Nhật H1, sinh năm 2000. Nay ông H đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với bà V, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa,
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị xử cho ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị Thúy V ly hôn. Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Ông Dương Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Dương Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy V. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, bị đơn cư trú tại thành phố B, kết quả xác minh xác định bà Nguyễn Thị Thúy V cũng không xuất cảnh ra nước ngoài trong thời điểm Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và khoản 1 Điều 228, điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên toà.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị Thúy V kết hôn ngày 29/12/1992, kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà V là hôn nhân hợp pháp đúng với quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Xét mâu thuẫn giữa ông H và bà V: Căn cứ lời khai của ông H, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi ông H, bà V cư trú cho thấy trong thời gian chung sống, giữa ông H và bà V cũng có thời gian hạnh phúc, hòa thuận, nhưng sau này đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng không thể hòa giải được. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, làm ăn, phát triển kinh tế gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, chửi nhau, bà V còn đánh ông H và xô xát với mẹ chồng, cuối năm 2023 bà V đã chuyển ra khỏi nhà, không còn chung sống với ông H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhưng bà V không có mặt để tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử, đến nay ông H vẫn kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông H và bà V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để xử cho ông H ly hôn bà V.
[2.2] Về con chung: Ông H và bà V có 02 con chung là Dương Hùng C, sinh ngày 03/4/1995 và Dương Nhật H1, sinh ngày 23/10/2000. Do các con chung của ông H, bà V đã trưởng thành và phát triển bình thường, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị Thúy V ly hôn.
- Về án phí: Ông Dương Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001711 ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự:Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông H và bà V mâu thuẫn gia đình, ông H yêu câu giải quyết ly hôn. Không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung
