|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày: 28-6-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Lê Công Nhận.
- 2. Ông Hoàng Ngọc Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 08/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh năm 2002 tại xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và con bà Dương Thị T; Tiền án : Bản án 283/HSST ngày 22/10/2020 của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội, xử phạt Nguyễn Văn M 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Chị Phạm Thị Yến H, sinh năm 1995; (xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. (xin xét xử vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1967; (có mặt)
- + Bà Dương Thị T, sinh năm 1968;
- Đều cư trú tại: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. (xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
- + Anh Tiêu Văn H1.
- + Ông Ngô Bá C.
( Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn M là nhân viên phục vụ tại quán B của anh Tiêu Văn H1 ở thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Do cần tiền tiêu xài, M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 07/3/2024, chị Phạm Thị Yến H (em họ của anh H1) đưa con đi học, M thấy phòng ngủ của chị H cạnh quán bia không khoá cửa, lợi dụng sơ hở M đi vào mở tủ quần áo lục tìm tài sản, phát hiện thấy 01 chiếc ví màu xanh bên trong có số tiền 3.300.000đ và 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng. M lấy tiền và chiếc nhẫn cất giấu trong túi quần bên phải rồi đi đến cửa hàng vàng bạc Thông Huyền của ông Nguyễn Văn T1 ở chợ C, thôn N, xã C, huyện T bán chiếc nhẫn được 1.200.000đ, sau đó M đi đến quán I của anh Ngô Bá C ở thôn X, xã T, huyện T chơi G, ăn uống hết 2.900.000đ. Chị H phát hiện tài sản bị mất đã làm đơn trình báo Cơ quan Công an.
Kết luận giám định số 2208/KL- KTHS ngày 02/4/2024 của V- Bộ C1 kết luận: 01 vòng kim loại màu vàng dạng nhẫn đeo tay, mặt nhẫn gắn 04 viên vật liệu không màu gửi giám định có tổng khối lượng 2,43g (tính cả các viên vật liệu) trong đó : Phần kim loại màu vàng là hợp kim vàng (A), bạc (A1), đồng (Cu), kẽm (Zn) ; hàm lượng Au : 41,78%, A : 6,50%.
04 viên vật liệu gắn trên vòng kim loại đều là đá Cubic Zirconia (CZ).
Kết luận giám định số 59/K1-KTHS ngày 28/3/2024 của Phòng K- Công an tỉnh H kết luận : Các tờ tiền gồm 05 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000đ số seri MB 20617220, PY 18684820, LB 15337218 ; UM 14695274; FL 14661068 ; 02 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000đ, số seri là II 19029899, WT 21119660 là tiền thật.
Kết luận định giá tài sản số 10/KL- HĐĐGTS ngày 09/4/2024 kết luận : 01 vòng kim loại màu vàng dạng nhẫn đeo tay và mặt nhẫn gắn 04 viên vật liệu không màu có khối lượng 2,43g trong đó : Phần kim loại màu vàng là tổng hợp kim loại (Au), bạc (A1), đồng (Cu), kẽm (Zn) ; hàm lượng Au : 41,78%, A : 6,50%, 04 viên vật liệu gắn trên vòng kim loại đều là đá Cubic Zirconia (CZ) tại thời điểm hiện tại có giá trị là 1.850.000đ.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 08/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp như cáo trạng đã mô tả; xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo M từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 20/3/2024. Về hình phạt bổ sung không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Không. Vật chứng: Trả lại cho bị hại số tiền 2.900.000đ; 01 nhẫn kim loại màu vàng. (Tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng). Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại Quyết định xét xử, Hội đồng xét xử xác định anh Ngô Bá C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tại phiên toà, Hội đồng thay đổi tư cách tố tụng anh C là người làm chứng.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 07h30 phút ngày 07/3/2024, tại phòng ngủ của chị Phạm Thị Yến H; địa chỉ thuộc thôn N, xã C, huyện T, Nguyễn Văn M đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản lén lút chiếm đoạt 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, trị giá 1.850.000đ và số tiền 3.300.000₫ của chị Phạm Thị Yến H. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 5.150.000đ.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo từng bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma tuý chưa được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
[4] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu được nhận lại tài sản bị cáo trộm cắp là chiếc nhẫn kim loại màu vàng và số tiền 2.900.000đ, tự nguyện cho bị cáo số tiền còn lại bị cáo đã chiếm đoạt là 400.000đ. 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng; số tiền 2.900.000đ là (theo đặc điểm nêu trên đã được nhận dạng là tài sản bị hại bị chiếm đoạt) đã được thu giữ nên cần trả lại cho bị hại. Đối với số tiền còn lại bị cáo chiếm đoạt của bị hại, bị hại tự nguyện cho bị cáo nên không đặt ra xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Ông Nguyễn Văn T1, anh Ngô Bá C đã được gia đình bị cáo trả số tiền mua nhẫn kim loại màu vàng và số tiền 2.900.000đ, ông Nguyễn Văn D và bà Dương Thị T cho bị cáo số tiền trả cho ông T1, anh C, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với họ.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng; số tiền 2.900.000₫ (bao gồm 05 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000đ, số seri từ MB 20617220; PY 18684820, LB 15337218, UM 14695274, FL 14661068; 02 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000đ, số seri là II 19029899, WT 21119660) là tài sản của bị hại chị Phạm Thị Yến H nên cần trả lại cho chị H.
[8] Về vấn đề khác:
Ông Nguyễn Văn T1, anh Ngô Bá C không biết chiếc nhẫn kim loại màu vàng, số tiền 2.900.000₫ là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, Điều 136;
Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/3/2024.
- Về vật chứng: Trả lại cho chị Phạm Thị Y Hà 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng; số tiền 2.900.000đ (bao gồm 05 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000đ, số seri từ MB 20617220; PY 18684820, LB 15337218, UM 14695274, FL 14661068; 02 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000đ, số seri là II 19029899, WT 21119660).
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M trộm cắp tài sản
