|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST
Ngày 27/8/2024
V/v “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hằng;
- Ông Bùi Xuân Hưởng;
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Hiệp– Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 112/2024/TLST - HNGĐ ngày 29/5/2024 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Huyền T - Sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ H, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Bị đơn: Anh Lê Văn B - Sinh năm 1987
Địa chỉ: Tổ G, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đỗ Thị Huyền T trình bày: Chị và anh Lê Văn B kết hôn ngày 05/11/2013 tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc có hạnh phúc, khoảng 04 năm gần đây vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh B chơi cá độ dẫn đến nợ nần nhiều dẫn đến nhiều chủ nợ đến đòi nợ, chị T phải dàn xếp trả nợ, từ đó tình cảm vợ chồng dần xa cách. Thời gian gần đây nhất là tháng 8/2023 chị T làm ăn với đối tác Trung Quốc nhưng anh B lại thường ghen tuông vô cớ và có lời lẽ sỉ nhục vợ. Vợ chồng anh chị sống ly thân được 04 tháng nay không quan tâm gì đến nhau. Đến nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn B.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Lê Minh C sinh ngày 01/6/2015 và cháu Lê Minh H sinh ngày 07/01/2017. Hiện cháu Lê Minh H khỏe mạnh phát triển, bình thường, còn cháu Lê Minh C bị mắc bệnh rối loạn phổ tự kỷ, giao tiếp kém, có giấy chứng nhận khuyết tật nhẹ. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Lê Minh H, Lê Minh C đến khi cháu đủ 18 tuổi và đến khi cháu C khỏi bệnh. Không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn anh Lê Văn B có ý kiến như sau: Tại bản tự khai ngày 05/6/2024 anh B xác định cuộc sống vợ chồng vẫn hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Trường hợp giải quyết ly hôn anh Lê Văn B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Lê Minh C, để chị T nuôi dưỡng cháu Lê Minh H. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn anh B không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 điều 147; Điều 227; Điều 228; Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đỗ Thị Huyền T, xử cho chị Đỗ Thị Huyền T được ly hôn với anh Lê Văn B.
Về con chung: Giao cháu Lê Minh H sinh ngày 07/01/2017 và cháu Lê minh C1 sinh ngày 01/6/2015 cho chị Đỗ Thị Huyền T trực tiếp trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Trường hợp khi cháu Lê Minh C đủ 18 tuổi mà cháu vẫn chưa khỏi bệnh thì chị Đỗ Thị Huyền T có trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc cháu C cho đến khi cháu khỏi bệnh. Anh Lê Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lê Văn B có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho nguyên đơn, bị đơn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo khoản 1 Điều 28; Khoản 1 điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bị đơn anh Lê Văn B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh Lê Văn B.
[2]Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Huyền T và anh Lê Văn B kết hôn với nhau ngày 05/11/2013 tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, vợ chồng không tin tưởng nhau từ đó thường xảy ra cãi chửi nhau. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ được 04 tháng nay, không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như kinh tế. Chị T đã cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về mâu thuẫn vợ chồng là đúng sự thật. Như vậy cuộc sống vợ chồng giữa anh chị đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Huyền T là phù hợp.
[3]Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có hai con chung là Lê Minh C sinh ngày 01/6/2015 và cháu Lê Minh H sinh ngày 07/01/2017. Đối với ý kiến của chị T và anh B về nuôi con chung, Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Lê Minh H phát triển khỏe mạnh bình thường và có nguyện vọng xin ở với mẹ. Còn cháu Lê Minh C có giấy chứng nhận khuyết tật nhẹ (khuyết tật trí tuệ), theo như chị Đỗ Thị Huyền T cung cấp thì cháu C bị bệnh rối loạn phổ tự kỷ, cháu C hiện vẫn đang học tại Trường Tiểu học C2, thành phố L. Tòa án tham khảo ý kiến của cháu C thì cháu có nguyện vọng ở với mẹ. Hiện nay chị Đỗ Thị Huyền T đang làm tự do (làm việc tại Công ty TNHH K) mức thu nhập 20.000.000 đồng/tháng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu anh B nộp chứng cứ chứng minh về điều kiện sống và mức thu nhập nhưng anh B không giao nộp tài liệu chứng cứ, do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét ý kiến của anh B.
Như vậy chị Đỗ Thị Huyền T có đủ điều kiện để nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung nên cần giao hai cháu Lê Minh C sinh ngày 01/6/2015 và cháu Lê Minh H sinh ngày 07/01/2017 cho chị Đỗ Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Đối với cháu Lê Minh C, trường hợp đến khi cháu đủ 18 tuổi mà cháu vẫn chưa khỏi bệnh thì cần giao cho người trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu khỏi bệnh để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung.
[4]Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]Về án phí: Chị Đỗ Thị Huyền T phải chịu tiền án phí ly hôn theo khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị Huyền T và anh Lê Văn B, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cháu Lê Minh H sinh ngày 07/01/2017 và cháu Lê Minh C sinh ngày 01/6/2015 cho chị Đỗ Thị Huyền T trực tiếp trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Trường hợp khi cháu Lê Minh C đủ 18 tuổi mà cháu vẫn chưa khỏi bệnh thì chị Đỗ Thị Huyền T có trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc cháu C cho đến khi cháu khỏi bệnh. Anh Lê Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lê Văn B có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc các con chung không ai có quyền cản trở.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị Huyền T phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000536 ngày 31/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai (Theo lệnh chuyển có số 10001326 ngày 30/5/2024 của Kho bạc Nhà nước L), chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hà Thị Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vũ Thị Hòa |
Hà Thị Anh |
|
Vũ Thị Lan Hương |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị T khởi kiện ly hôn, nuôi con chung với anh B
