Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ CAM RANH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/DS-ST

Ngày: 26/8/2024

V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đại Hải
  2. Ông Phan Văn Hoạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966;

Nơi cư trú: 279 Tỉnh lộ 9, tổ dân phố H, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt và xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Bà Mai Thị L, sinh năm 1960;

Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 5 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà và bà Mai Thị L có quan hệ quen biết nên bà có cho bà Mai Thị L vay nhiều lần tiền để bà L làm giấy tờ nhà, cụ thể:

Ngày 12 tháng 9 năm 2022 âm lịch tức ngày 07 tháng 10 năm 2022, bà T cho bà L vay số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), hẹn 06 tháng sau trả, việc vay mượn tiền có lập giấy mượn tiền đề ngày 12 âm tháng 9 năm 2022 và giấy mượn tiền có chữ ký của các bên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022 âm lịch tức ngày 10 tháng 10 năm 2022, bà T cho bà L vay số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), hẹn 03 tháng sau trả, việc vay mượn tiền có lập giấy mượn tiền đề ngày 15 âm tháng 9 năm 2022 và giấy mượn tiền có chữ ký của các bên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2022 âm lịch tức ngày 20 tháng 10 năm 2022, bà T cho bà L vay số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), hẹn 03 tháng sau trả, việc vay mượn tiền có lập giấy mượn tiền đề ngày 25 âm tháng 9 năm 2022 và giấy mượn tiền có chữ ký của các bên.

Tuy nhiên, đến thời hạn trả nợ đối với các khoản tiền vay trên, bà T đến đòi nợ nhưng bà L không chịu trả. Đến nay, bà T đã đòi nợ nhiều lần nhưng bà L vẫn cố tình không trả nợ cho bà T. Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà L phải trả cho bà một lần toàn bộ số tiền vay là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và không yêu cầu lãi suất.

* Tại phiên tòa bị đơn bà Mai Thị L trình bày: Bà được người quen giới thiệu nên có vay tiền của bà Nguyễn Thị T. Năm 2020 bà vay bà T 02 lần tiền mỗi lần vay 5.000.000 đồng và năm 2021 tiếp tục vay thêm 5.000.000 đồng nữa nhưng không nhớ rõ ngày tháng vay tiền. Bà xác nhận 03 giấy mượn tiền bà T cung cấp cho Tòa án là do bà T viết và bà ký tên vào các giấy mượn tiền đó. Tuy nhiên do chủ quan và tin tưởng nên bà không xem kĩ nội dung và ngày tháng năm trong các giấy mượn tiền. Bà cũng không còn lưu giữ chứng cứ hay tài liệu gì thể hiện việc bà vay của bà T 15.000.000 đồng. Vì bà chỉ vay 15.000.000 đồng nên bà đồng ý trả cho bà T số tiền 15.000.000 đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần cho đến khi hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1] Nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
    2. [1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án căn cứ theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.
    3. [1.3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ đã vay phát sinh từ các giao dịch dân sự vay tài sản nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015 xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  2. [2] Về nội dung vụ án: Theo tài liệu do nguyên đơn cung cấp thể hiện:

    Ngày 12 tháng 9 năm 2022 âm lịch tức ngày 07 tháng 10 năm 2022 nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 10.000.000 đồng, hẹn trả sau 06 tháng. Đến hạn trả nợ bị đơn không thực hiện trả tiền theo thoả thuận.

    Ngày 15 tháng 9 năm 2022 âm lịch tức ngày 10 tháng 10 năm 2022 nguyên đơn tiếp tục cho bị đơn vay số tiền là 10.000.000 đồng, hẹn trả sau 06 tháng. Đến hạn trả nợ bị đơn không thực hiện trả tiền theo thoả thuận.

    Ngày 25 tháng 9 năm 2022 âm lịch tức ngày 25 tháng 10 năm 2022 nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 10.000.000 đồng, hẹn trả sau 03 tháng. Đến hạn trả nợ bị đơn không thực hiện trả tiền theo thoả thuận.

    1. [3] Hội đồng xét xử căn cứ vào 03 “Giấy mượn tiền” ngày 12 tháng 9 năm 2022 âm lịch tức ngày 07 tháng 10 năm 2022, ngày 15 tháng 9 năm 2022 âm lịch tức ngày 10 tháng 10 năm 2022 và ngày 25 tháng 9 năm 2022 âm lịch tức ngày 25 tháng 10 năm 2022 có chữ ký của nguyên đơn và bị đơn với tổng số tiền vay là 30.000.000 đồng, đồng thời bị đơn cũng xác nhận có ký vào 03 giấy mượn tiền mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án để xác định việc bị đơn vay tiền của nguyên đơn là có thật.

    Bị đơn trình bày do tin tưởng nên chỉ ký tên mà không đọc lại nội dung trong các giấy mượn tiền, thực tế bị đơn chỉ vay nguyên đơn 15.000.000 đồng. Tuy nhiên bị đơn không có chứng cứ hay tài liệu gì thể hiện việc bị đơn vay của nguyên đơn 15.000.000 đồng, vì vậy không đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận lời trình bày của bị đơn.

    Hợp đồng vay tiền theo 03 “Giấy mượn tiền” được các bên tự nguyện giao kết nên phát sinh hiệu lực. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả toàn bộ khoản nợ gốc là hoàn toàn phù hợp quy định tại các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự 2015 nên chấp nhận.

    Đối với số tiền lãi nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    1. [4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận là 30.000.000 đồng x 5%=1.500.000 đồng. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Các Điều 26, 35, 39, 147, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn bà Mai Thị L phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T số tiền là: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
  2. Án phí:
    • - Bị đơn bà Mai Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
    • - Hoàn lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí là 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004732 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

Quy định:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải trả thì hàng tháng phải chịu thêm tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thờihạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND TP. Cam Ranh;
  • - THADS TP. Cam Ranh
  • - Đương sự;
  • - Lưu án văn, hồ sơ.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Nga

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đại Hải Phan Văn Hoạt

Lê Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 49/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T-Mai Thị L-BA
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger