|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/DS-ST Ngày: 25/4/2024. V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Văn Sang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Phước Tâm;
- Bà Võ Thị Điệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Trang– Kiểm sát viên
Trong ngày 25/4/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1046/2023/TLST- DS ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 160/2024/QÐST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
(Đại diện Ngân hàng có đơn xin xét xử vắng mặt, bà H, ông N vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP K có nội dung như sau: Ngân hàng cho ông Bùi Trọng N1 và bà Trương Thị Tuyết H1 vay tiền thông qua hợp đồng tín dụng số 1183/21/HĐHM/0600-328282 ngày 20/12/2021 và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số: 0249/22/BÐ/0600-328282 tháng 4/2022 . Tài sản thế chấp đảm bảo tiền vay là quyền sử dụng đất thửa 455 tờ bản đồ số 6 đất tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thông qua hợp đồng thế chấp số: 1183/21/HĐTC-BĐS/0600.328.xxx và hợp đồng thế chấp bổ sung ngày 23/4/2022. Tính đến ngày 25/4/2024 ông N1 và bà H1 còn nợ Ngân hàng tiền gốc 3.100.000.000đồng, lãi 808.504.243đồng; tổng cộng 3.908.505.243 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu ông N1 và bà Tuyết H1 trả số tiền trên, tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng và công nhận hợp đồng thế chấp và có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trả tiền vốn tiền lãi theo 02 khế ước trên.
Ông Bùi Trọng N1 và bà Trương Thị Tuyết H1 vắng mặt khi hòa giải cũng như xét xử nên không có lời trình bày.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
- Giấy ủy quyền (bản chính);
- Bảng kê tính lãi (bản chính);
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng/ sở hữu tài sản (bản sao);
- Bộ hồ sơ vay vốn (bản sao).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền xét thấy:
Nguyên đơn xác định bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay nên thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là đúng theo quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc thanh toán tiền vay và bị đơn có nơi cư trú tại xã B, xã B, huyện C nên Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 91, 95 Luật tín dụng. Đối với đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên áp dụng điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào hai chứng cứ là hợp đồng tín dụng số 1183/21/HĐHM/0600-328282 ngày 20/12/2021 và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số: 0249/22/BÐ/0600-328282 giải ngân ngày 19/4/2022 đã xác định vợ chồng ông Bùi Trọng N1 và bà Trương Thị Tuyết H1 có vay ở Ngân hàng TMCP K số tiền gốc là 3.100.000.000đồng lãi suất thoả thuận trong hợp đồng 9,3%/năm (cho hợp đồng tín dụng) và 18%/năm cho thẻ tín dụng quốc tế, mục đích cho vay bổ sung vốn kinh doanh. Sau khi vay ông N1 và bà Tuyết H1 không trả vốn, lãi theo định kỳ thể hiện vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay được quy định tại điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng và điều 466 Bộ luật dân sự. Nay Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông Bùi Trọng N1 và bà Trương Thị Tuyết H1 có nghĩa vụ trả tiền vay vốn và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 3.908.505.243đồng là có căn cứ để chấp nhận.
Căn cứ vào hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1183/21/HĐTC-BĐS/0600.328.xxx và hợp đồng thế chấp bổ sung ngày 23/4/2022 thể hiện nội dung bà Trương Thị Tuyết H1 và ông Bùi Trọng N1 đồng ý đưa thửa đất 455 tờ bản đồ số 6 đất tại xã B, huyện C do ông Bùi Trọng N1 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo tiền vay của 02 khế ước vay số 1183/21/HĐHM/0600-328282 ngày 20/12/2021 và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số: 0249/22/BÐ/0600-328282. Xét hợp đồng thế chấp và đăng ký thế chấp đúng theo quy định của pháp luật, tại thời điểm thế chấp và tại thời điểm xét xử tài sản thế chấp không phát sinh tranh chấp với bên thứ ba nên phát sinh hiệu lực theo điều 293, 298, 299, 317, 319 Bộ luật dân sự. Do đó Ngân hàng TMCP K yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp và xử lý tải sản thế chấp thửa đất nói trên để thu hồi nợ khi ông N1 và bà Tuyết H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ để chấp nhận.
[3] Xét phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh về trình tự thủ tục tố tụng giải quyết vụ án từ giai đoạn thụ lý đến khi xét xử, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nên chấp nhận toàn bộ lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
[4] Về án phí: Bà Trương Thị Tuyết H1 và ông Bùi Trọng N1 phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch trên tổng số tiền Tòa án án buộc trả cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Số tiền tạm ứng án phí của nguyên đơn đã nộp trước được hoàn lại toàn bộ. Và số tiền án phí bà Tuyết H1 và ông Trọng N1 phải nộp được tính trên số tiền phải trả cho Ngân hàng 3.908.505.243đồng: 72.000.000đồng + (1.908.505.243đồng x 2%) = 110.170.000đồng.
[5] Về chi xem xét thẩm định tài sản: Ông N1 và bà Tuyết H1 phải nộp 5.000.000đồng để trả lại cho Ngân hàng TMCP K vì Ngân hàng đã tạm ứng trước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 293, 298, 299, 317, 319, 466 Bộ luật dân sự; Điều 92, 95 Luật tín dụng; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP K.
- Buộc bà Trương Thị Tuyết H1 và ông Bùi Trọng N1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K tiền vay vốn và lãi tính đến ngày 25/4/2024 là 3.908.505.243đồng (Ba tỉ chín trăm lẽ tám triệu, năm trăm lẽ năm nghìn, hai trăm bốn ba đồng).
- Bà Trương Thị Tuyết H1 và ông Bùi Trọng N1 có nghĩa vụ trả tiếp tiền lãi sau ngày 25/4/2023 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng số 1183/21/HĐHM/0600-328282 ngày 20/12/2021 và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số: 0249/22/BÐ/0600-328282 cho đến khi thi hành xong.
- Công nhận hợp đồng thế chấp số: 1183/21/HĐTC-BĐS/0600.328.xxx và hợp đồng thế chấp bổ sung ngày 23/4/2022.
- Bà Trương Thị Tuyết H1 và ông Bùi Trọng N1 không thực hiện việc trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa 455 tờ bản đồ số 6 đất tại xã B, huyện C do ông Bùi Trọng N1 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thu hồi toàn bộ số nợ vốn, lãi phát sinh.
- Về chi phí xem xét thẩm định tài sản: Ông Bùi Trọng N1 và bà Trương Thị Tuyết H1 phải nộp 5.000.000đồng để trả lại cho Ngân hàng TMCP K vì Ngân hàng đã tạm ứng trước.
- Về án phí:
- + Bà Trương Thị Tuyết H1 và ông Bùi Trọng N1 phải nộp 110.170.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- + Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K 50.899.000đồng tiền tạm ứng án đã nộp theo biên lai số 0000838 ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
- Các đương sự trong vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên tòa Châu Văn Sang |
Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp
- Số bản án: 49/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng K - Trương Thị Tuyết H, Bùi Trọng N
