Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày: 26- 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyên.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Lê Xuân Thuật và ông Đỗ Xuân Chúc
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y.
  • - Đại diện VKSND huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/4//2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/HSST ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành T, sinh năm 1981; HKTT: Thôn Tr, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1952; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1983; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền sự: Không

Tiền án :

  • - Bản án số 87/2019/HSST ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Kh, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong bản án ngày 30/4/2021.
  • - Bản án số 06/2022/HSST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong bản án ngày 09/5/2023. (Bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1952. Vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn Tr, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên

* Người làm chứng:

  1. Ông Đào Xuân Th, sinh năm 1981. Vắng mặt
  2. Trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

  3. Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1983. Có mặt
  4. Ông Đỗ Văn Th, sinh năm 1978. Vắng mặt
  5. Trú tại: Thôn Tr, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 28/12/2023, tại đường 376 thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an xã Tân Việt kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành T, sinh năm 1981 trú tại thôn Tr, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Tại tay trái T 01 gói giấy màu trắng, có dòng kẻ màu xanh kích thước (2,5x1,5)cm bên trong có 02 gói giấy nhỏ, gồm 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh kích thước (02x01)cm và 01 gói giấy màu vàng có chữ White horse màu trắng kích thước (01x1,5)cm, bên trong hai gói giấy đều chứa chất bột cục màu trắng niêm phong ký hiệu M1; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 89K5-2806.

Ngày 28/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành T. Kết quả không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thành T khai: T là người sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 28/12/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 89K5-2806 đi đến địa phận xã T, huyện Y tìm người hỏi mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực cầu Hầu, thuộc thôn Ngh, xã T, huyện Y thì T thấy một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ đứng ở dìa đường, T lại gần hỏi người này mua ma túy ở đâu thì người đàn ông này nói có ma túy bán nên T hỏi mua 400.000 đồng ma túy và đưa cho người đàn ông số tiền này rồi người đàn ông này đi hướng thôn Nội Tây, xã T khoảng 10 phút thì quay lại đưa cho T 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh kích thước (2,5x1,5)cm, T nhận và mở ra kiểm tra thấy bên trong có 02 gói giấy chứa chất cục bột màu trắng là ma túy. T cầm gói ma túy ở tay trái và điều khiển xe mô tô tìm chỗ sử dụng. Khi T đi trên đường 376 thuộc thôn H, xã T, huyện Y thì bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng liên quan.

Kết quả xét nghiệm Nguyễn Thành T dương tính với ma túy loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 132/KL-KTHS(MT) ngày 31/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối lượng là 0,205 gam (Không phẩy hai không năm gam), là ma túy, là loại Heroine.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã nhập kho vật chứng đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 01 phong bì niêm phong ghi số 132/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,175 gam (không phẩy một bẩy năm gam) ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1, các mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định chờ xử lý.

Đối với người đàn ông bị cáo T khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 89K5-2806, quá trình điều tra xác định là xe của ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1952 là bố đẻ của Nguyễn Thành T. Ông B mua lại chiếc xe mô tô trên của anh Đỗ Văn Th ở cùng thôn. Ông B không biết T sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy nên ngày 16/03/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y trả lại ông B chiếc xe trên theo quyết định xử lý vật chứng số 409 ngày 13/03/2024.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thành T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 47/CT-VKS-YM ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thành T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
  • - Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/12/2023;
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y còn đề nghị về đường lối xử lý vật chứng trong vụ án.
  • - Bị cáo Nguyễn Thành T nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của người làm chứng, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 28/12/2023, tại đường 376 thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên bị cáo Nguyễn Thành T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,205g ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang. Tại Bản án số 06/2022/HSST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên, bị cáo T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Nên bị cáo T phải chịu tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo thu nhập không ổn định và việc bị cáo Tàng trữ trái phép chất ma túy cũng để phục vụ cơn nghiện của mình chứ không có mục đích tư lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, để phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng trong vụ án:

01 phong bì niêm phong ghi số 132/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,175g Heroine; các mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật liên quan đến hành vi phạm tội, vật nhà nước cấm lưu hành, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

[7] Đối với người đàn ông bị cáo T khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thành T.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 0,175g g ma túy Heroine, các mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu số 132/KL-KTHS (MT).

(Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y và Công an huyện Y).

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - CA, VKS, THA huyện Y;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - UBND thị trấn Y;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Trung Điều 249
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger