Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày 26/4/2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Chu Hồng Thái

2. Ông: Trương Khánh Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thành Công - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vũ - Kiểm sát viên

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường Nhà văn hóa UBND xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự đã thụ lý số: 48/2024/TLHS-ST ngày 16/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 16/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân T, sinh ngày 10/11/1981

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm F, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lái xe.

Con ông: Nguyễn Khắc L (Đã chết); Con bà: Vũ Thị C, sinh năm 1956.

Vợ: Trần Thị T1, sinh năm 1983

Cùng trú tại: Xóm F, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Con: Có 03 con; Con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2019.

Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại Bản án số 126/2018/HSST ngày 18/10/2018, TAND thị xã Phổ Yên (nay là thành phố P) xử phạt T 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/05/2019 (đã được xóa án tích).

+ Tại Quyết định số 83/QĐ-UBND ngày 06/10/2023, UBND xã V áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với T trong thời hạn 01 năm.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).

*. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị: Nguyễn Thu L1, sinh năm: 2003 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội

*. Người chứng kiến:

Anh: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1983 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm I, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Anh: Nguyễn Xuân T2, sinh năm: 1958 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm E, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 22/01/2024, Tổ công tác Công an xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại xóm E, xã V, huyện Đ thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì người đàn ông chấp hành, khai báo tên là Nguyễn Xuân T, đồng thời tự giác lấy từ trong túi áo ngực phía trong, bên trái áo khoác của T đang mặc 01 gói giấy màu trắng có chữ nước ngoài màu đen; 02 gói bằng giấy màu trắng, xanh, vàng bên trong đều chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy (T khai nhận là chất ma túy loại Heroine của T mua về để sử dụng cho bản thân) giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 gói giấy màu trắng có chữ nước ngoài màu đen; 02 gói bằng giấy màu trắng, xanh, vàng bên trong đều chứa chất bột màu trắng (niêm phong vào phong bì ký hiệu T);
  • 570.000 đồng tiền polime Việt Nam đồng (niêm phong vào phong bì ký hiệu T1);
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, đã cũ đã qua sử dụng (niêm phong vào phong bì ký hiệu T2);
  • 01 xe máy điện nhãn hiệu Okusan V8 màu đen, BKS: 20MĐ5-03937, đã qua sử dụng;

Xét thấy có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã V đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Căn cứ tài liệu xác minh, hồi 11 giờ 30 phút ngày 23/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Nguyễn Xuân T. Kết quả khám xét: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 23/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K - Công an tỉnh T tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của T có khối lượng là: 0,264 gam (Niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 làm mẫu giám định).

Tại Kết luận giám định số 299/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận:

Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,264 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T khai nhận như sau: Bản thân T là người nghiện chất ma túy. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21/01/2024, T điều khiển chiếc xe máy điện nhãn hiệu OKUSANV8, màu đen (là xe của chị Nguyễn Thu L1 – con gái T) đi từ nhà đến khu vực gần bưu điện huyện Đ thuộc TDP C, thị trấn H, huyện Đ, mục đích để mua chất ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết được được 04 gói chất ma túy loại Heroine với giá 600.000 đồng. Sau đó, T giấu 04 gói Heroine trong túi áo ngực phía trong bên trái áo khoác và đi về nhà. T đã sử dụng 01 gói Heroine, còn 03 gói Trường để trong túi áo khoác. Đến khoảng 17 giờ 45 phút, T mặc chiếc áo khoác có Heroine từ nhà đi mua thức ăn. Khi đi đến khu vực ngã tư xóm E, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì gặp Tổ công tác của Công an xã V yêu cầu kiểm tra. T đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác 03 gói Heroine như nêu trên.

Lời khai nhận tội của bị can phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Lời khai của người chứng kiến; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • 03 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 và T3 (bên trong là mẫu giám định còn lại; vỏ giấy gói mẫu, vỏ bì niêm phong T; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đen, đã cũ đã qua sử dụng);
  • 01 xe máy điện nhãn hiệu OKUSAN V8 màu đen, BKS: 20MĐ5 - 03937, đã qua sử dụng;
  • 570.000 đồng tiền ngân hàng N.

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSĐT ngày 16/4/2024 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện VKSND huyện Đại Từ giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/01/2024.

Về phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện, không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên miễm phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 03 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 và T3 (bên trong là mẫu giám định còn lại; vỏ giấy gói mẫu, vỏ bì niêm phong T3
  • Trả lại cho chị Nguyễn Thu L1 01 xe máy điện nhãn hiệu OKUSAN V8 màu đen, BKS: 20MĐ5 – 03937, đã qua sử dụng;
  • Tạm giữ số tiền 570.000 đồng tiền ngân hàng N và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đen, đã cũ đã qua sử dụng) của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về căn cứ buộc tội:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 22/01/2024, tại khu vực xóm E, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Xuân T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,264 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an xã V, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Lời khai nhận của Nguyễn Xuân T phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến; vật chứng thu giữ, kết luận giám định.

Như vậy hành vi tàng trữ 0,264 gam Heroine của Nguyễn Xuân T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật như sau:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

[3]. Xét tính chất hành vi:

Xét về tính chất hành vi của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người mà còn ảnh hưởng và suy hao kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo có mẹ là bà Vũ Thị C, là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo là nghiện ma tuý có nhân thân xấu tại Bản án số 126/2018/HSST ngày 18/10/2018, TAND thị xã Phổ Yên (nay là thành phố P) xử phạt T 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/05/2019 (đã được xóa án tích) và tại Quyết định số 83/QĐ-UBND ngày 06/10/2023, UBND xã V áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với T trong thời hạn 01 năm. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân, trở thành công dân có ích cho xã hội mà bị cáo cố ý lao vào con đường phạm tội nhằm mục đích để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần xử lý nghiêm, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

[5]. Về hình phạt:

Căn cứ vào tình chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo T mức án từ 24 đến 30 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện, không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên miễm hình phạt bổ sung cho bị cáo

[7]. Về vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 03 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 và T3 (bên trong là mẫu giám định còn lại; vỏ giấy gói mẫu, vỏ bì niêm phong T3
  • 01 xe máy điện nhãn hiệu OKUSAN V8 màu đen, BKS: 20MĐ5 - 03937, đã qua sử dụng. Do đây là tài sản của chị Nguyễn Thu L1 là con gái của bị cáo mua và đứng tên chị L1 khi bị cáo lấy đi mua ma túy chị L1 không biết và không có ở nhà nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thu L1 quản lý sử dụng.
  • Tạm giữ số tiền 570.000 đồng tiền ngân hàng N và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đen, đã cũ đã qua sử dụng) của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[8]. Về nguồn gốc chất ma túy loại Heroine thu giữ, T khai mua của người đàn ông không rõ lai lịch và địa chỉ tại khu vực gần bưu điện huyện Đ thuộc TDP C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ không có căn cứ xem xét, xử lý.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ xác định chiếc xe máy điện nhãn hiệu OKUSAN V8, BKS 20MĐ5 – 039.37 là của chị Nguyễn Thu L1. Chị L1 không biết Nguyễn Xuân T sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ không xem xét xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/01/2024.

2. Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo T.

3. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

4. Về vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 03 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 và T3 (bên trong là mẫu giám định còn lại; vỏ giấy gói mẫu, vỏ bì niêm phong T; - Trả lại cho chị Nguyễn Thu L1 01 xe máy điện nhãn hiệu OKUSAN V8 màu đen, BKS: 20MĐ5 – 03937, đã qua sử dụng;
  • Tạm giữ số tiền 570.000 đồng tiền ngân hàng N và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đen, đã cũ đã qua sử dụng) của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 48/QĐ-VKSĐT ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ)

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sở thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên (1b);
  • - Công an huyện Đại Từ (3b);
  • - VKSND huyện Đại Từ (1b);
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên (1b);
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ (1b);
  • - THAHS (2b);
  • - Thông báo cho UBND xã Vạn Thọ;
  • - Bị cáo (1b);
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Kao Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger