Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Danh
  2. Ông Châu Thanh Vũ Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:

Bà Huỳnh Thị Quyền Trang – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 06/9/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với:

- Bị cáo: Dương Thanh T, sinh ngày 07 tháng 4 năm 2005; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Chổ ở hiện nay: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Dương Mong R và bà Lâm Thị N; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 13/11/2023 bị Công an xã A, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành nộp phạt ngày 13/12/2023. Bị cáo Dương Thanh T bị áp dụng biện pháp ngăn chặc bắt tạm giam từ ngày 23/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị hại: Ông Lý P, sinh ngày 24/01/2004 (Có mặt).

Nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Hiện nay đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trà Lâm V, sinh năm 2000 (Vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  3. Bà Lâm Thị N, sinh năm 1972 (Có mặt).
  4. Nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Người làm chứng:

  1. Ông Châu Minh T1, sinh năm 1996 (Có mặt).
  2. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  3. Ông Trà Minh H, sinh năm 1997 (Có mặt).
  4. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  5. Ông Lý Thanh L, sinh năm 1967 (Có mặt).
  6. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  7. Ông Thạch Thanh T2, sinh năm 1998 (Có mặt).
  8. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  9. Bà Danh Thị Hồng H1, sinh năm 1976 (Có mặt).
  10. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  11. Ông Danh Đ, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
  12. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  13. Ông Triệu Ngọc C, sinh năm 1994 (Có mặt).
  14. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  15. Ông Trần Minh T3, sinh năm 1998(Có mặt).
  16. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  17. Ông Lâm Huỳnh S, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
  18. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  19. Bà Kim Thị H2, sinh năm 1971 (Vắng mặt).
  20. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa bị cáo Dương Thanh T (sinh ngày 07/4/2005, nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) và bị hại L (sinh ngày 24/01/2004, nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) không có mối quan hệ bà con thân tộc, từ trước đến nay cũng không có mâu thuẫn gì với nhau.

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20 tháng 10 năm 2023, Trà Lâm V (sinh ngày 28/5/2000, nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 83FC-3434 chở Lý P đi ngang quán bida của ông Danh Đ (sinh năm 1972, nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng), thì V nhìn thấy Trà Minh H (sinh năm 1997, nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) trong quán bida, do trước đó giữa V và H có mâu thuẫn với nhau, nên V dừng xe lại trước cửa nhà V (nhà Vĩnh sát bên quán bida của ông Đ), sau đó V vào nhà lấy 02 cây dao (loại dao làm cá) cầm trên tay đi vào quán bida chỗ H đang đứng để nói chuyện, còn P thì đi vào nhà của V. Cùng lúc này, Dương Thanh T đang ngồi uống cà phê cùng Châu Minh T1 (sinh năm 1996, nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) tại quán cà phê của bà Danh Thị Hồng H1, gần quán bida của ông Đ nhìn thấy trước quán bida ông Đ có nhiều người tập trung, nên T và T1 đi đến xem, khi đến T thấy V cầm dao rượt đuổi H nên T quay lại quán bà H1 lấy cây leng trộn hồ dài khoảng 121cm đi qua quán bida ông Đ để đánh V, khi T đi qua thì thấy V đang cầm thanh kim loại rượt đuổi theo ông Lý Thanh L (sinh năm 1967, nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng), lúc này T cầm cây leng lên đánh V nhưng được mọi người can ngăn đẩy ra nên T không đánh V được, sau đó T định quay lại tiếp tục đánh V nhưng thấy P chạy từ trong nhà của V ra nên T đi đến sau lưng P dùng cây leng chém vào lưng P 01 cái, sau đó P quay mặt lại Thảo cầm leng chém vào P thêm 01 cái nữa thì P đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào tay trái của P gây thương tích, sau khi đánh P xong thì T cầm cây leng đi về nhà còn P thì được mọi người đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu, sau đó được chuyển đến Bệnh viện Đ2 điều trị. Trong lúc T đang dùng leng gây thương tích cho P, thì Châu Minh T1 dùng một khúc cây đập vào phần đầu của xe gắn máy biển kiểm soát 83FC-3434 của V làm xe bị hư hỏng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 122/KLTTCT-TTPYST ngày 18/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S kết luận:

1. Các kết quả chính: Sẹo cẳng tay - cổ tay trái, kích thước lớn, tổn thường gây đứt gân gấp ngón 3, 4, 5, gân gấp cổ tay trụ, gân gan tay dài, đứt động mạch trụ, đứt thần kinh trụ đoạn cẳng tay đã được phẩu thuật vi phẫu khâu nối động mạch trụ và thần kinh trụ, nối các gân cơ bị đứt, hạn chế chức năng ngón 3, 4, 5 bàn tay trái. Tỷ lệ tổn thường cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 3% (ba phần trăm); 15% (mười lăm phần trăm) và 06% (sáu phần trăm).

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 08 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Lý P tại thời điểm giám định là 23% (hai mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Tổn thương cẳng tay trái có đặc điểm do vật sắc gây nên.

+ Tổn thương không nằm ở vùng nguy hiểm đến tính mạng.

Tại bản Cáo trạng số 44/CT-VKS-CT ngày 04-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Dương Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số:44/CT-VKS-CT, ngày04-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tuyên bố bị cáo Dương Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Dương Thanh T từ 06 đến 09 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của bị cáo đã bồi thường cho bị hại Lý P số tiền là 30.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, nên không đặt ra để xem xét. Về xử lý tang vật: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 cây leng có chiều dài 121cm, lưỡi leng bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 22cm; cán leng bằng gỗ, tròn, có chiều dài 99cm; 01 cây dao, loại dao yếm, có chiều dài 37cm, lưỡi dao bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 25,5cm; cán dao bằng gỗ, tròn, có chiều dài 11,5cm. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị hại Lý P trình bày: Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của bị cáo đã bồi thường cho bị hại Lý P số tiền là 30.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị N: Trình bày: Số tiền 30.000.000 đồng mà gia đình bà đã bồi thường cho bị hại bà không yêu cầu bị cáo Dương Thanh T trả lại.

Trong phần lời nói sau cùng bị cáo Dương Thanh T trình bày xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử xác định ông Châu Minh T1, ông Trà Minh H, ông Lý Thanh L, ông Thạch Thanh T2, bà Dương Thị Hồng H3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, qua xét hỏi tại phiên tòa xét thấy những người này không có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan trong vụ án này nên Hội đồng xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng của ông Châu Minh T1, ông Trà Minh H, ông Lý Thanh L, ông Thạch Thanh T2, bà Dương Thị Hồng H3 là người làm chứng.

[3] Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trà Lâm V, người làm chứng bà Dương Thị Hồng H3, ông Danh Đ, ông Lâm HUỳnh S1, bà Kim Thị H2 vắng mặt. Xét thấy, ông Trà Lâm V, người làm chứng bà Dương Thị Hồng H3, ông Danh Đ, ông Lâm Huỳnh S, bà Kim Thị H2 được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, việc vắng mặt của các ông bà không gây trở ngại đến việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa. Cho nên, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) xét xử vắng mặt những người nói trên.

[4] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Dương Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét lời thừa nhận tội của bị cáo T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người liên quan, lời khai của những người làm chứng, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Cho nên, có cơ sở để xác định: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/10/2023, tại ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, do bị cáo nghĩ rằng bị hại L bênh vực ông Trà Lâm V nên bị cáo Dương Thanh T đã có hành vi dùng leng chém vào người bị hại Lý P 02 cái gây thương tích, qua giám định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại P là 23%. Do đó, Cáo trạng số 44/CT-VKS-CT ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Dương Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Thanh T là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và ý thức được rằng sức khỏe con người là vốn quý của xã hội và được pháp luật bảo vệ; giữa bị cáo và bị không có mâu thuẫn gì với nhau nhưng bị cáo đã có hành vi dung cây len là hung khí nguy hiểm dánh bị hại Lý P 02 cái gây thương tích theo Kết luật giám định là 23% là thể hiện tính côn đồ của bị cáo. Cho nên, hành vi của bị cáo Dương Thanh T có đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Thanh T là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của bị hại một cách trái pháp luật. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm cho toàn xã hội.

[7] Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thường toàn bộ phần trách nhiệm dân sự cho bị hại sới số tiền là 30.000.000 đồng; trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án; bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc Khmer có trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên Hội xét xử sẽ xem xét áp dụng các tình triết giảm nhẹ này theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của bị cáo Thảo đã bồi thường cho bị hại Lý P số tiền là 30.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng có thu giữ: 01 cây leng có chiều dài 121cm, lưỡi leng bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 22cm; cán leng bằng gỗ, tròn, có chiều dài 99cm; 01 cây dao, loại dao yếm, có chiều dài 37cm, lưỡi dao bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 25,5cm; cán dao bằng gỗ, tròn, có chiều dài 11,5cm. Xét thấy,01 cây leng có chiều dài 121cm, lưỡi leng bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 22cm; cán leng bằng gỗ, tròn, có chiều dài 99cm là hung khí bị cáo Dương Thanh Thảo dùng gây thương tích cho bị hại; đối với 01 cây dao, loại dao yếm, có chiều dài 37cm, lưỡi dao bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 25,5cm; cán dao bằng gỗ, tròn, có chiều dài 11,5cm là của ông Trà Lâm V nhưng ông V không có yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy các vật chứng nói trên.

[10] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo Dương Thanh T4 người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Thanh T.

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

- Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021);

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Dương Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Xử phạt bị cáo Dương Thanh T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/5/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của bị cáo Thảo đã bồi thường cho bị hại Lý P số tiền là 30.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  4. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Tịch thu tiêu hủy 01 cây leng có chiều dài 121cm, lưỡi leng bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 22cm; cán leng bằng gỗ, tròn, có chiều dài 99cm; 01 cây dao, loại dao yếm, có chiều dài 37cm, lưỡi dao bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 25,5cm; cán dao bằng gỗ, tròn, có chiều dài 11,5cm.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
  6. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ST;
  • - VKSND tỉnh ST;
  • - VKSND huyện CT;
  • - CQ CSĐT CA huyện CT;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Chi cục THADS huyện CT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Hỗ trợ tư pháp CACT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Duong Thanh Th phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger