|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày 25/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm
Bà Đỗ Thị Phương – Giáo viên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 50/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024;
Đối với bị cáo: Nguyễn Thành T, sinh ngày 05/10/2006 tại: Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định; con bà Nguyễn Thị P; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 14/4/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/8/2023.
- Ngày 29/11/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 09 tháng tù tội trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành hình phạt tù từ ngày 20/01/2024 tại Trại giam S (Tổng cục V- Bộ C). Có mặt.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1987 (mẹ đẻ của bị cáo). Có mặt.
Địa chỉ: Xóm T, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị P: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965. Có mặt.
Địa chỉ: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, Thanh Hóa
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc K – Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 6, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2006, Có mặt.
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983, Có mặt.
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1993, Vắng mặt.
- Chị Lê Yến N, sinh năm 2009, Vắng mặt.
- Anh Hồ Tấn P1, sinh năm 2004, Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật của chị N: Anh Lê Sỹ H1, sinh năm 1981.
Đều có địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Q, xã X, huyện T, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 16/01/2024, Nguyễn Thành T sử dụng tài khoản Messenger tên “Nguyễn Thành T” nhắn tin cho chị Nguyễn Thị H (sinh năm 2006, trú tại Thôn G, xã T) hỏi có nhà không để đến chơi. Chị H nhắn tin trả lời có nhà và chụp ảnh chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 36D1 - 743.18 của chị H đang cắm sẵn chìa khóa dựng ở sân gửi cho T, đồng thời chỉ đường đi đến nhà cho T và nói “Khi nào đi qua thấy chiếc xe dựng ở sân là nhà chị”. Nguyễn Thành T xem ảnh chụp thấy chiếc xe đang cắm sẵn chìa khóa thì nảy sinh ý định trộm cắp để sử dụng làm phương tiện di chuyển cho bản thân.
Sau đó T rủ Hồ Tấn P1 (sinh năm 2004, trú tại thôn Q, xã X)- lúc này đang đi cùng T đến nhà chị H chơi, P1 đồng ý. P1 điều khiển xe máy của P1 chở T đến nhà chị H, gặp chị H rồi cả ba ngồi ở sân nói chuyện. Khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, anh Phạm Quang L1 (sinh năm 1998 trú tại Thôn G, xã T) đến rủ chị H đi lễ tại nhà thờ nên T và P1 ra về.
P1 điều khiển xe chở T ra đến đầu đường rẽ vào Thôn G, xã T tiếp giáp với đường mòn Hồ Chí M thì T bảo dừng xe và nói “Em nhờ anh việc này nhá”, P1 hỏi “việc gì”, T nói “Giờ anh đi xuống ngã ba M xem có ai theo không, nếu có người đi theo anh thì em không dám đi đâu vì mấy anh ấy tìm, lùa theo em đó”, P1 nói “thôi tau không đi đâu, tau về đây, tý nữa không thấy tau quay lại là tau về rồi”.
Sau đó P1 điều khiển xe rời đi còn T chạy bộ quay lại nhà chị H mục đích để lấy trộm xe máy. Lúc này nhà chị H không còn ai ở nhà, chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 36D1 - 743.18 cắm sẵn chìa khóa điện dựng ở sân, T ngồi lên xe nổ máy điều khiển xe ra đường H. Lúc này, chị Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1993, trú tại thôn G, xã T) đang bế con đi dạo mát qua nhà chị H nhìn thấy, tuy nhiên do chị T2 nghĩ là bạn bè của H lấy xe nên không nói gì.
Nguyễn Thành T sau khi trộm cắp chiếc xe thì điều khiển đi về nhà P1 tại xã X, trên đường đi thì gặp P1 đang đi theo hướng đường ngược chiều. Thấy T, P1 quay xe lại và hỏi “Xe ở mô đó”, T trả lời “Xe em mượn thằng cu em, tý 10 giờ phải mang trả để mai hấn đi học”, nói xong T và P1 điều khiển xe đi về nhà P1.
Về đến nơi, T nhờ P1 tìm cờ lê để tháo biển kiểm soát xe ra, thấy vậy P1 hỏi “tự nhiên tháo ra làm chỉ”, T trả lời “tháo ra cho dễ chạy”. Do trước đó T có kể chuyện cho P1 về việc đang bị một nhóm nam thanh niên khác tìm đánh, nên khi nghe T nói vậy thì P1 không hỏi gì thêm và phụ giúp T tháo biển kiểm soát. Tháo xong biển kiểm soát, T mang giấu vào tủ phòng khách nhà P1, rồi điều khiển xe chở P1 đi chơi cho đến 01 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, thì chở P1 quay về nhà. T điều khiển xe đi đến nhà nghỉ T3 tại thị trấn L thuê phòng ngủ, sau đó đi chơi lang thang nhà bạn bè, không có nơi ở cố định. Chị H sau khi đi lễ tại nhà thờ về phát hiện bị kẻ gian đột nhập trộm cắp chiếc xe máy nên chị Nguyễn Thị H đã đến Công an xã T trình báo và giao nộp 01 file video trích xuất từ Camera an ninh ghi hình lại Nguyễn Thành T vào nhà chị H lấy trộm xe máy.
Ngày 19/01/2024, khi Nguyễn Thành T đang sử dụng xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen (không biển kiểm soát) tại địa bàn thị trấn L thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ, thu giữ chiếc xe, sau đó bàn giao người và phương tiện cho Cơ quan điều tra Công an huyện T giải quyết.
Đối với biển kiểm soát 36D1 - 743.18 (là của chị H) do sau khi T trộm cắp được, T cùng P1 đã tháo ra nên Hồ Tấn P1 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Ngày 20/01/2024, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tiến hành định giá 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA màu đen bạc, đã qua sử dụng. Số khung: RLHJA3924NY172743; số máy: JA39E2669667.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-ĐGTS, ngày 22/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Giá trị thực tế của tài sản cần định giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 19.550.000 đồng.
Ngày 06/03/2024, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh T tiến hành giám định: 01 file video để xác định có bị cắt ghép, chỉnh sửa không.
Tại bản kết luận giám định số 1067/KL-KTHS, ngày 14/03/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video của 01 đĩa DVD-R gửi giám định.
Về phần dân sự: Ngày 04/03/2024, chị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản là chiếc xe máy bị mất trộm và không có yêu cầu gì khác về bồi thường đối với T. Vật chứng vụ án: Không có.
Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSTX ngày 17/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Thành T về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “trộm cắp tài sản”;
Về hình phạt đề nghị:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù của bản án số: 69/2023/HS – ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án là từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024, được trừ thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt tù bản án số: 69/2023/HS – ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa từ ngày 20/01/2024 đến 24/6/2024 và thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 27/8/2023 đến ngày 01/9/2023 theo bản án số: 69/2023/HS - ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Không xem xét
Về án phí: Buộc bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát như trình bày ở trên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò, nhân thân, nhận thức, hoàn cảnh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khi phạm tội để xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
Đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, người làm chứng; Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 05 phút ngày 16/01/2024, tại thôn G, xã T, huyện T, Nguyễn Thành T lợi dụng sơ hở của chị Nguyễn Thị H trong việc quản lý tài sản, đã vào trộm cắp được 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 36D1-743.18 của chị H đang để ở sân trị giá 19.550.000 đồng.
Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ cấu thành tội “trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Bị cáo vì mục đích vụ lợi, đã bất chấp pháp luật để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 14/4/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/8/2023, ngày 29/11/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 09 tháng tù tội trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành hình phạt tù từ ngày 20/01/2024 tại Trại giam S (Tổng cục V- Bộ C). Tuy nhiên, do khi các lần bị kết án bị cáo đang là người dưới 18 tuổi, nên bị cáo được coi là không có án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại phiên tòa người dại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần thiết xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đã nhiều lần bị xử lý về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng không chịu lấy đó làm bài học mà sau mỗi lần bị xử lý, bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật và không có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo là người dưới 18 tuổi, lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản là chiếc xe máy bị mất trộm và không có yêu cầu gì khác về bồi thường đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án: Không xem xét.
[8] Về các tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với Hồ Tấn P1 không biết và không tham gia vào việc trộm cắp xe mô tô của chị H cùng với bị cáo nên không xử lý đối với P1 là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “trộm cắp tài sản”;
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 12 (mười hai) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 09 (chín) tháng tù của bản án số: 69/2023/HS – ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án là 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024, được trừ thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt tù của bản án số: 69/2023/HS – ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa từ ngày 20/01/2024 đến 24/6/2024 và thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 27/8/2023 đến ngày 01/9/2023 theo bản án số: 69/2023/HS - ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Công |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA Số: 16/2024/TB-TA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc. Thọ Xuân, ngày 17 tháng 7 năm 2024 |
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 45, 260, 261 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét thấy bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS – ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa có lỗi cần được sửa chữa bổ sung như sau:
Về nội dung tại dòng thứ 4 từ dưới lên trang 7 của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024"
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “hình phạt tù tính từ ngày 25/6/2024".
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Công |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ssd
