Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 tháng 9 năm 2024

V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A Tếnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cầm Văn Tổ
  2. Ông Hà Văn Sơ

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 ngày 8 ngày 2024 về xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Anh Lý Xuân Ph. Sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản P P, xã Ch Y, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Cầm Thị Th h, sinh năm 1996. Địa chỉ: Bản Nong T M, xã Ph Cằm, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 8 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lý Xuân Ph trình bày như sau:

Anh và chị Cầm Thị Th kết hôn với nhau từ năm 2014 do cả hai cùng tự nguyện. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Ch Y, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La vào ngày 01/10/2014.

Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị Thanh đi học xa, tình cảm vợ chồng cũng xa cách dẫn đến phai nhạt tình cảm. Đến năm 2015 anh chị đã sống ly thân, trong thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm hay hỏi han gì đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, không thể quay về tiếp tục cuộc sống vợ chồng nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Thanh.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Cầm Tiến Nam, sinh ngày 10/10/2015. Hiện tại cháu đang ở cùng chị Thanh và ông bà ngoại, anh và chị Thanh ly hôn cháu có nguyện vọng muốn ở với anh, anh sẽ nuôi dưỡng, nếu cháu có nguyện vọng được ở với mẹ anh cũng đồng ý.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không đề nghị Tòa án xem xét.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Phúc giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, và đề nghị Tòa án giao con chung cho chị Thanh nuôi dưỡng do hiện anh cũng đang đi làm xa, không có khả năng trực tiếp nuôi con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo thụ lý và giấy triệu tập cho bị đơn chị Cầm Thị Th về địa chỉ bản Nong Tàu Mông, xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn. Tuy nhiên, chị Thanh không có mặt tại Tòa án làm việc và không gửi văn bản thể hiện ý kiến về việc anh Lý Xuân Phúc xin ly hôn với chị. Tòa án đã tiến hành xác minh, xác định chị Cầm Thị Thanh đã nhận được các thông báo của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm việc. Căn cứ Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành xác minh theo quy định về tình trạng hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, về con chung và tài sản chung, nợ chung của anh Phúc và chị Thanh. Đồng thời, đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn, bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn đã biết việc Tòa án triệu tập nhưng không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định: Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho anh Phúc. Tuyên xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lý Xuân Phúc và chị Cầm Thị Thanh. Về con chung, giao con chung cho chị Cầm Thị Thanh trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Phúc xác nhận không có tài sản chung và nợ chung, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề này. Về án phí: Anh Phúc xin miễn án phí dân sự về việc xin ly hôn do thuộc trường hợp người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Anh Lý Xuân Phúc có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với chị Cầm Thị Thanh có địa chỉ tại: Bản Nong Tàu Mông, xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thụ lý vụ án hôn nhân gia đình với quan hệ pháp luật tranh chấp xin ly hôn là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp. Qua xác minh xác định bị đơn đã biết được nội dung anh Phúc xin ly hôn tại Tòa án, thời gian và địa điểm Tòa án triệu tập làm việc thông qua bố mẹ đẻ ở chung nhà nhưng bị đơn cố tình không có mặt tại Tòa án, không gửi văn bản thể hiện ý kiến, quan điểm về việc khởi kiện cho Tòa án có căn cứ xem xét giải quyết vụ án. Trước phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Lý Xuân Phúc và chị Cầm Thị Thanh.

[2] Về yêu cầu xin ly hôn:

[2.1] Về hôn nhân: Anh Lý Xuân Phúc và chị Cầm Thị Thanh tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2014, anh chị đã được UBND xã Chiềng Yên, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/10/2014. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn năm thì phát sinh mâu thuẫn. Theo anh Phúc, mâu thuẫn là do chị Thanh đi học xa nhà, vì vậy tình cảm vợ chồng cũng dần nhạt phai. Đến năm 2015 anh chị cũng đã sống ly thân, anh sinh sống cùng bố mẹ ở bản Pá Puộc, xã Chiềng Yên, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, chị Thanh sinh sống cùng bố mẹ đẻ chị Thanh ở bản Nong Tàu Mông, xã Phiêng Cằn, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Qua xác minh tại ban quản lý bản Nong Tàu Mông nơi vợ chồng anh Phúc và chị Thanh chung sống khi mới kết hôn xác định: Anh Phúc, chị Thanh sau khi kết hôn chung sống với bố mẹ chị Thanh tại bản trong quá trình chung sống vợ chồng cũng ít khi ở cùng nhau chị Thanh và anh Phúc đều còn đang đi học, anh Phúc cũng không quan tâm chăm sóc vợ con. Tuy nhiên, anh Phúc, chị Thanh không chung sống với nhau từ năm 2015 đến nay. Đại diện gia đình chị Thanh khẳng định vợ chồng khi mới kết hôn sinh sống cùng bố mẹ vợ ở bản Nong Tàu Mông, xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn trong quá trình chung sống hai vợ chồng cũng không hay cãi cọ gì, chị Thanh và anh Phúc vẫn còn đang đi học, anh Phúc cũng không quan tâm gì vợ con. Đến năm 2015 vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi. Việc anh Phúc có đơn xin ly hôn với chị Thanh, chị Thanh có biết nhưng bận đi làm nên không có mặt tại Tòa án. Hội đồng xét xử thấy rằng, chị Thanh đã biết anh Phúc xin ly hôn nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm, anh Phúc cương quyết xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, trong thời gian sống ly thân anh chị không còn quan tâm đến nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lý Xuân Phúc, xử cho anh Phúc được ly hôn với chị Cầm Thị Thanh.

[2.2] Về con chung: Các tài liệu anh Phúc cung cấp và xác định của gia đình chị Thanh khẳng định trong thời gian hôn nhân, anh Phúc và chị Thanh có 01 con chung là Cầm Tiến Nam, sinh ngày 10/10/2015. Trong thời gian ly thân, cháu Nam sống cùng chị Thanh và ông bà ngoại. Nội dung này được đại diện ban quản lý bản và đại diện gia đình chị Thanh khẳng định. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phúc đề nghị Tòa án giao con cho chị Thanh trực tiếp nuôi dưỡng. Mặc dù chị Thanh không có mặt tại Tòa án thể hiện nguyện vọng nuôi dưỡng con chung và chứng minh khả năng nuôi dưỡng. Tuy nhiên, trong thời gian ly thân cháu Nam đã ở cùng mẹ và ông bà ngoại, anh Phúc giao lại quyền nuôi dưỡng con chung cho chị Thanh. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu Cầm Tiến Nam, sinh ngày 10/10/2015 cho chị Cầm Thị Thanh trực tiếp chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh Phúc không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Thanh do chị Thanh chưa yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn khẳng định không có tài sản chung và nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề này. Qua xác minh cũng xác định nội dung này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí: Anh Phúc xin miễn án phí dân sự về việc xin ly hôn do thuộc trường hợp người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho anh Phúc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lý Xuân Phúc và chị Cầm Thị Thanh.
  2. Về con chung: Giao cháu Cầm Tiến Nam, sinh ngày 10/10/2015 cho chị Cầm Thị Thanh trực tiếp chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động). Anh Phúc không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Thanh do chị Thanh chưa yêu cầu.

Sau khi ly hôn, anh Phúc được quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh Phúc được thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

  1. Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Không có
  2. Về án phí: Anh Lý Xuân Phúc được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Mai Sơn;
  • - Các đương sự.
  • - UBND xã Chiềng Yên, huyện Vân Hồ;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tráng A Tếnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA về xin ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger