|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-
Ngày: 17/7/2024
V/v Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trịnh Đoàn Hạnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân
Bà Thạch Thị Lan Nhung
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Khắc Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị G, sinh năm: 1994;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng
- Bị đơn: Anh Trần Quý H, sinh năm: 1990;
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Tại phiên tòa, chị Đoàn Thị G có mặt, anh Trần Quý H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Đoàn Thị G trình bày: Chị Đoàn Thị G và anh Trần Quý H xây dựng gia đình với nhau năm 2023, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 15/9/2023. Vợ chồng chị hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên khác biệt nhau về tính cách, anh H cố chấp và ít quan tâm vợ con, chị G góp ý thì anh H quát mắng nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Chị G đã cố gắng chịu đựng để giữ hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, cuộc sống chung căng thẳng, đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị G yêu cầu ly hôn.
Chị G và anh H có một con chung là Trần Đoàn Gia H1, sinh ngày 06/12/2023. Khi ly hôn chị Đoàn Thị G yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh Trần Quý H phải cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng một tháng. Về tài sản chung và nợ chung chị G xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị không còn yêu cầu gì khác.
2. Tại bản tự khai bị đơn anh Trần Quý H trình bày: Vợ chồng anh Trần Quý H xây dựng gia đình với nhau năm 2023, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 15/9/2023. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên cãi nhau. Nay chị G yêu cầu ly hôn thì anh H không đồng ý và nhờ Tòa án hòa giải để vợ chồng về hàn gắn.
Anh Trần Quý H xác định vợ chồng anh có một con chung là Trần Đoàn Gia H1, sinh ngày 06/12/2023. Khi ly hôn anh H đồng ý giao con cho chị G nuôi dưỡng, anh H không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H vắng mặt. Vì vậy, Tòa án triển khai đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, chị G giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh H, yêu cầu được nuôi con chung. Chị G không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không có yêu cầu gì về tài sản chung và nợ chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đoàn Thị G. Xử cho chị Đoàn Thị G và anh Trần Quý H được ly hôn. Giao con là Trần Đoàn Gia H1, sinh ngày 06/12/2023 cho chị G có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Các vấn đề khác không đặt ra để xem xét giải quyết. Buộc chị G phải chịu án phí về việc ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa anh Trần Quý H vắng mặt nhưng anh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh H là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị G và anh Trần Quý H xây dựng gia đình với nhau năm 2023, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, mặc dù anh chị chưa có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống nhưng anh chị có đăng kí kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 15/9/2023 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống anh chị không được hòa thuận hạnh phúc do vợ chồng anh chị bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã và đã tự sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay. Tại phiên tòa, chị G giữ nguyên yêu cầu ly hôn còn anh H vắng mặt nhưng trong văn bản trình bày ý kiến và yêu cầu giải quyết vắng mặt thì anh H cũng trình bày trước đây anh xác định con còn nhỏ nên anh không đồng ý ly hôn nhưng nay anh xác định vợ chồng không còn tình cảm nên anh H đồng ý ly hôn. Đồng thời, qua xác minh thực tế tại địa phương thì được biết anh chị không chung sống với nhau thường xuyên mà hai bên chỉ đi lại lo cho con, trong thời gian này hai bên xảy ra rất nhiều bất đồng, hôn nhân không có hạnh phúc. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị G, xử cho chị G và anh H được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
[3] Về con chung: Anh Trần Quý H và chị Đoàn Thị G có một con chung là Trần Đoàn Gia H1, sinh ngày 06/12/2023. Khi ly hôn chị G yêu cầu nuôi con và trong lời khai của mình anh H cũng đồng ý giao con cho chị G nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay con anh chị còn nhỏ chưa được 12 tháng tuổi, cháu lại là con gái nên cần sự chăm sóc, gần gũi của mẹ nhiều hơn và anh H cũng đồng ý giao con cho chị G nuôi dưỡng nên cần giao con cho chị G nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.
[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Khi làm đơn khởi kiện chị G trình bày chị yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng một tháng nhưng trong lời khai của mình anh H không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa chị G xác định không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đoàn Thị G và anh Trần Quý H xác định không có, anh chị không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Buộc chị G phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đoàn Thị G, xử cho chị Đoàn Thị G và anh Trần Quý H được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con là Trần Đoàn Gia H1, sinh ngày 06/12/2023 cho chị Đoàn Thị G có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Quý H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Chị Đoàn Thị G phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Đoàn Thị G đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004724 ngày 24/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Chị Đoàn Thị G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/7/2024) chị Đoàn Thị G có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo. Riêng anh Trần Quý H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đoàn Hạnh Trang |
Bản án số 49/2024/HNGĐ- ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa chị G và anh H
