Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GIA NGHĨA

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Xuân Quyền và ông Đinh Xuân Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Như - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Hồ Thị M, sinh năm 1990, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKTT: Thôn Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nơi tạm trú: Tổ dân phố H, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ D và bà Phạm Thị T; có chồng là ông Lại Việt H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: 01 tiền án, ngày 13/9/2023 bị TAND thành phố Gia Nghĩa kết án về tội Đánh bạc, ngày 31/01/2024 đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại – có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Lương Thị Thúy N; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

Bà Huỳnh Thị Mỹ N1; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

Bà Lý Thị Tố N2; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bà Trương Thị Diễm M1; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

Bà Triệu Thùy T1; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bà Đào Thị Hà G; địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2023, Hồ Thị M nhận thấy trên địa bàn thành phố G có nhiều người có nhu cầu vay tiền nên nảy sinh ý định cho vay tiền với lãi suất cao để thu lợi. M sử dụng số tiền 68.700.000đ cho nhiều người vay theo hình thức trả góp theo ngày, mức tiền cho vay giao động từ 2.000.000đ đến 30.000.000đ/1 lần vay, thu lãi trước và trả góp tiền gốc theo ngày, số tiền trả góp hàng ngày từ 100.000đ/ngày đến 700.000đ/ngày, kỳ hạn vay từ 22 đến 60 ngày. M sử dụng số tài khoản 050127682094 mở tại Ngân hàng S và số tài khoản 9935356879 mở tại Ngân hàng V đều mang tên Hồ Thị M để chuyển tiền cho người vay. Hàng ngày, M sẽ trực tiếp đi thu tiền trả góp của người vay hoặc nhận chuyển khoản tiền trả góp cho M vào các số tài khoản nêu trên. Từ tháng 02/2023 đến ngày 07/12/2023, M đã cho 06 người vay với 29 lượt vay, tổng số tiền cho vay là 429.500.000đ, thu lợi bất chính số tiền 49.152.658đ, cụ thể như sau:

  1. Từ ngày 22/8/2023 đến ngày 31/10/2023, M cho chị Huỳnh Thị Mỹ N1 (trú tại: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G) vay 05 lần với tổng số tiền vay 132.000.000đ, lãi suất từ 136,9%/năm đến 483,1%/năm, tổng số tiền thu lợi bất chính là 20.686.027đ.

    Ngày 22/8/2023, M cho chị N1 vay 30.000.000đ, thời gian trả góp 60 ngày, thu lãi trước 6.000.000đ, góp 500.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 304,2%/năm, khoản vay này chị N1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính 5.013.699đ.

    Ngày 05/9/2023, M cho chị N1 vay 24.000.000đ, thời gian trả góp 34 ngày, 33 ngày đầu góp 700.000đ/ngày, ngày cuối góp 900.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 429,4%/năm, M thu trước tiền lãi 4.000.000đ, M đưa cho chị N1 20.000.000đ, khoản vay này chị N1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 3.552.877đ.

    Ngày 01/10/2023, M cho chị N1 vay 24.000.000đ, thời gian trả góp 34 ngày, 33 ngày đầu góp 700.000đ/ngày, ngày cuối góp 900.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 429,4%/năm, M thu trước tiền lãi 4.000.000đ, M đưa cho chị N1 20.000.000đ, khoản vay này ngày 14/10/2023 chị N1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 3.552.877đ.

    Ngày 14/10/2023, M cho chị N1 vay 30.000.000đ, thời gian trả góp 60 ngày, góp 500.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 136,9%/năm, M thu trước tiền lãi 6.000.000đ, đưa cho chị N1 24.000.000đ, tính đến ngày 31/10/2023 chị N1 đã góp 23.400.000đ, khoản vay này chị N1 chưa hoàn thành, M thu lợi bất chính số tiền 5.013.699đ, vòn nợ lại 6.600.00₫ tiền gốc.

    Ngày 31/10/2023, M cho chị N1 vay 24.000.000đ, thời gian trả góp 34 ngày, 33 ngày đầu góp 700.000đ/ngày, ngày cuối góp 900.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 483,1%/năm, M thu trước tiền lãi 4.000.000đ, tính đến ngày 31/10/2023, chị N1 đã góp 11.000.000đ, khoản vay này chị N1 chưa hoàn thành, M thu lợi bất chính số tiền 3.552.877đ, còn nợ lại 13.000.00₫ tiền gốc.

  2. Từ ngày 13/2/2023 đến ngày 22/7/2023, M cho bà Lý Thị Tố N2 (trú tại: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G) vay 06 lần với tổng số tiền vay 38.500.000đ, lãi suất từ 221,7%/năm đến 331,8%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 2.985.808đ, cụ thể:

    Ngày 13/02/2023, M cho bà Tố N2 vay 13.200.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, 29 ngày đầu góp 450.000đ/ngày, ngày cuối góp 150.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 243,37%/năm, M thu trước tiền lãi 1.200.000đ, đưa cho bà N2 12.000.000đ, khoản vay này bà N2 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 9.83.014đ.

    Ngày 28/02/2023, M cho bà Tố N2 vay 2.200.000đ, thời gian trả góp 22 ngày, góp 100.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 331,8%/năm, M thu trước số tiền lãi 200.000đ, chuyển cho bà N2 2.000.000đ, khoản vay này bà N2 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 1.738.479đ.

    Ngày 29/4/2023, M cho bà Tố N2 vay 5.500.000đ, thời gian trả góp 27 ngày, 26 ngày đầu góp 200.000đ/ngày, ngày cuối góp 300.000đ/1 ngày, tương đương mức lãi suất vay 270,4%/năm, M thu trước tiền lãi 500.000đ, chuyển cho bà N2 5.000.000đ, khoản vay này bà N2 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 418.630đ.

    Ngày 01/6/2023, M cho bà Tố N2 vay 7.700.000đ, thời gian góp 30 ngày, 29 ngày đầu góp 250.000đ/ngày, ngày cuối 450.000đ/01 ngày, tương đương mức lãi suất vay 243,3%/năm, M thu trước tiền lãi 700.000đ, chuyển cho bà N2 7.000.000đ, khoản vay này bà N2 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 573.425đ.

    Ngày 06/7/2023, M cho bà Tố N2 vay 6.000.000đ, thời vay 30 ngày, góp 200.000đ/ngày, ngày cuối góp 300.000đ, tương đương mức lãi suất vay 221,2%/năm, M thu trước số tiền lãi 600.000đ, chuyển cho bà N2 5.400.000đ, khoản vay này bà N2 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 501.370đ.

    Ngày 22/7/2023, M cho bà Tố N2 vay 3.900.000đ, thời gian vay góp 30 ngày, góp 130.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 278,1%/năm, M thu trước tiền lãi 400.000đ, chuyển cho bà N2 3.500.000đ, khoản vay này bà N2 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 335.890đ.

  3. Từ ngày 22/7/2023 đến ngày 25/9/2023, M cho chị Trương Thị Diễm M1 (trú tại: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) vay 04 lần với tổng số tiền vay 120.000.000đ, mức lãi suất từ 162,2%/năm đến 270,4%/năm, tổng số tiền thu lợi bất chính là 9.465.753đ, cụ thể:

    Ngày 22/7/2023, M cho chị M1 vay 15.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 500.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 270,4%/năm, M thu trước tiền lãi 1.500.000đ, chuyển cho M1 13.500.000đ, khoản vay này chị M1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 1.253.425đ.

    Ngày 11/10/2023, M cho chị M1 vay 25.000.000đ, thời gian trả góp 31 ngày, 30 ngày đầu góp 800.000đ/ngày, ngày cuối góp 1.000.00đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 261,6%/năm,M thu trước tiền lãi 2.500.000đ, chuyển cho M1 22.500.000đ, khoản vay này chị M1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 2.075.342đ.

    Ngày 07/11/2023, M cho chị M1 vay 30.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 1.000.000đ/ ngày, tương đương mức lãi suất vay 270,4%/năm, M thu trước tiền lãi 3.000.000đ, chuyển cho M1 27.000.000đ, khoản vay này chị M1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 2.506.1849đ.

    Ngày 07/12/2023, M cho chị M1 vay 50.000.000đ, thời gian trả góp 50 ngày, góp 1.000.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 162,2%/năm, M thu trước tiền lãi 5.000.000đ, chuyển cho M1 45.000.000đ, khoản vay này chị M1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 3.630.137đ.

  4. Từ ngày 07/8/2023 đến ngày 25/9/2023, M cho chị Lương Thị Thúy N (trú tại: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G) vay 03 lần với tổng số tiền vay 30.000.000đ, mức lãi suất 486,7%/năm, tổng số tiền thu lợi bất chính là 4.506.849đ, cụ thể:

    Ngày 07/8/2023, M cho chị N vay 6.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 200.00đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 486,7%/năm, M thu trước tiền lãi 1.000.000đ, chuyển cho chị N 5.000.000đ, khoản vay này chị N đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 901.370đ.

    Ngày 30/8/2023, M cho chị N vay 12.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 400.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 486.7%/năm, M thu trước tiền lãi 2.000.000đ, chuyển cho chị N 10.000.000đ, khoản vay này chị N đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 1.802.740đ.

    Ngày 25/9/2023, M cho chị N vay 12.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 400.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 486.7%/năm, M thu trước số tiền lãi 2.000.000đ, chuyển cho chị N 10.000.000đ, khoản vay này chị N đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 1.802.740đ.

  5. Từ ngày 14/10/2023 đến ngày 17/11/2023, M cho chị Triệu Thùy T1 (trú tại: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G) vay 04 lần với tổng số tiền vay 79.000.000đ mức lãi suất từ 186,4% đến 486,7%/năm, tổng số tiền thu lợi bất chính là 8.368.493đ, cụ thể:

    Ngày 18/9/2023, M cho chị T1 vay 5.000.000đ, thời gian trả góp 25 ngày, góp 200.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 186,4%/năm, M thu trước tiền lãi 300.000đ, chuyển cho chị T1 4.700.000đ, khoản vay này chị T1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 231.507đ.

    Ngày 30/9/2023, M cho chị T1 vay 22.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, 29 ngày đầu góp 750.000đ/ngày, ngày cuối góp 250.000đ/ ngày, tương đương mức lãi suất vay 243,3%/năm, M thu trước tiền lãi 2.000.000đ, chuyển cho chị T1 20.000.000đ, khoản vay này chị T1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 1.638.356đ.

    Ngày 14/10/2023, M cho chị T1 vay 9.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 300.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 486,7%/năm, M thu trước tiền lãi 1.500.000đ, chuyển cho chị T1 7.500.000đ, khoản vay này chị T1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 1.352.055đ.

    Ngày 26/10/2023, M cho T1 vay 24.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 800.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 270,4%/năm. M thu trước số tiền lãi 2.400.000đ, chuyển cho chị T1 số tiền 21.600.000đ. Khoản vay này, chị T1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, thu lợi bất chính số tiền 2.005.479đ.

    Ngày 08/11/2023, M cho chị T1 vay 18.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 600.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 270,4%/năm, M thu trước tiền lãi 1.800.000đ, chuyển cho chị T1 16.200.000đ, khoản vay này, chị T1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 1.504.110đ.

    Ngày 17/11/2023, M cho chị T1 vay 6.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 200.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 270,4%/năm, M thu trước tiền lãi 600.000đ, chuyển cho chị T1 5.400.000đ, khoản vay này chị T1 đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 501.370đ.

  6. Từ tháng 2 năm 2023 đến ngày 12/11/2023, M cho chị Đào Thị Hà G (trú tại: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G) vay 05 lần với tổng số tiền vay 30.000.000đ, mức lãi suất 486,7%/năm, tổng số thu lợi bất chính là 4.506.849đ, cụ thể:

    Tháng 2/2023, M cho chị G vay 6.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 200.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 486,7%/năm, M thu trước tiền lãi 1.000.000đ, chuyển cho chị G 5.000.000đ, khoản vay này chị G đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 901.370đ.

    Ngày 20/2/2023, M cho chị G vay 6.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 200.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 486,7%/năm, M thu trước tiền lãi 1.000.000đ, chuyển cho chị G 5.000.000đ, khoản vay này chị G đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 901.370đ.

    Tháng 9/2023, M cho chị G vay 6.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 200.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 486,7%/năm, M thu trước tiền lãi 1.000.000đ, chuyển cho chị G 5.000.000đ, khoản vay này chị G đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 901.370đ.

    - Ngày 16/10/2023 M cho chị G vay số tiền 6.000.000đ, thời gian trả góp là 30 ngày, mỗi ngày góp 200.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 486,7%/năm. M thu trước số tiền lãi 1.000.000đ, chuyển cho chị G số tiền 5.000.000đ. Khoản vay này, chị G đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, thu lợi bất chính số tiền 901.370đ.

    Ngày 12/11/2023, M cho chị G vay 6.000.000đ, thời gian trả góp 30 ngày, góp 200.000đ/ngày, tương đương mức lãi suất vay 486,7%/năm, M thu trước tiền lãi 1.000.000đ, chuyển cho chị G 5.000.000đ, khoản vay này chị G đã trả đủ tiền lãi và tiền vay, M thu lợi bất chính số tiền 901.370đ.

Tổng số tiền Hồ Thị M cho vay là 429.500.000đ, trong đó đã thu được là 409.900.000đ và chưa thu được là 19.600.000đ. Tổng tiền lãi thu được là 58.200.000đ, trong đó thu lợi bất chính số tiền là 49.386.164đ. Đối với số tiền vay và lãi thu được M tiếp tục sử dụng cho nhiều người vay (khoản lãi suất tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm).

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm: 01 bản chính giấy mượn tiền đề ngày 31/08/2023 có chữ ký của người mượn Lương Thị Thúy N và người cho mượn Hồ Thị M; 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Huỳnh Thị Mỹ N1; 01 CCCD mang tên Trương Thị Diễm M1; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Đào Thị Hà G và 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi.

Tại Cáo trạng số 48/CT-VKS-GN ngày 13 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã truy tố Hồ Thị M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt tiền đối với Hồ Thị M, mức phạt từ 75.000.000đ đến 100.000.000đ để sung ngân sách nhà nước; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Trả lại giấy phép lái xe hạng B2 cho chị Huỳnh Thị Mỹ N1, căn cước công dân cho chị Trương Thị Diễm M1, giấy phép lái xe hạng cho chị Đào Thị Hà G; tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án đối với 01 giấy mượn tiền có chữ ký của người mượn Lương Thị Thúy N và người cho mượn Hồ Thị M; tịch thu, sung ngân sách nhà nước điện thoại di động hiệu Xiaomi.

Biện pháp tư pháp:

Truy thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 68.700.000đ cho vay và số tiền 8.815.836đ phát sinh từ tội phạm; trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền 49.384.164đ mà bị cáo thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng; truy thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 19.600.000 bị cáo Hồ Thị M cho chị Huỳnh Thị Mỹ N1 vay nhưng chị N1 chưa trả.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Từ tháng 2/2023 đến ngày 07/12/2023, tại địa bàn thành phố G, tỉnh Đắk Nông, Hồ Thị M đã sử dụng số tiền gốc 68.700.000đ để cho 06 người dân vay với hình thức trả góp theo ngày, mức tiền cho vay dao động từ 2.000.000đ đến 30.000.000đ/1 lần vay, số tiền trả góp từ 100.000đ/ngày đến 1.500.000đ/ngày, kỳ hạn vay từ 22 đến 60 ngày, mức lãi suất từ 136,9%-486,7%/01 năm (cao gấp 6,9 đến 24,3 lần mức lãi suất cao nhất Bộ luật Dân sự quy định). Với số tiền gốc ban đầu 68.7000.000, bị cáo đã xoay vòng cho vay nhiều lượt với tổng số tiền cho vay là 490.500.000đ, thu lợi bất chính số tiền 49.384.164đ.

Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Hồ Thị M phạm tội “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Điều 201 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

[3] Xét tội phạm bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Vì vậy, cần quyết định hình phạt tiền nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo tôn trọng pháp luật, đồng thời góp phần phòng ngừa tội phạm trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 13/9/2023, bị cáo bị kết án về tội Đánh bạc, chưa được xoá án tích mà tiếp tục phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Mặt khác, bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần trả lại giấy phép lái xe hạng B2 cho chị Huỳnh Thị Mỹ N1, trả lại căn cước công dân cho chị Trương Thị Diễm M1; trả lại giấy phép lái xe hạng A1 cho chị Đào Thị Hà G; tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án giấy mượn tiền có chữ ký của người mượn Lương Thị Thúy N và người cho mượn Hồ Thị M; tịch thu, sung ngân sách nhà nước điện thoại di động hiệu Xiaomi.

[8] Biện pháp tư pháp:

Đối với khoản tiền cho vay 68.700.000đ là phương tiện phạm tội nên cần truy thu sung quỹ nhà nước; đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm 8.815.836đ là tiền phát sinh từ tội phạm nên cần truy thu sung quỹ nhà nước; đối với khoản tiền 49.384.164đ thu lợi bất chính mà bị cáo thu được từ việc cho vay lãi nặng của 06 người vay nên cần trả lại cho những người vay, cụ thể: Trả lại cho bà Huỳnh Thị Mỹ N1 20.686.027đ, trả lại cho bà Lý Thị Tố N2 2.985.808đ, trả lại cho bà Trương Thị Diễm M1 9.465.753đ, trả lại cho bà Lương Thị Thúy N 4.506.849đ, trả lại cho bà Triệu Thùy T1 7.232.877đ và trả lại cho bà Đào Thị Hà G 4.506.849đ; đối với số tiền 19.600.000 bị cáo cho chị Huỳnh Thị Mỹ N1 vay nhưng chị N1 chưa trả vì vậy cần truy thu số tiền này từ chị N1 để sung quỹ nhà nước.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị Thúy N, Huỳnh Thị Mỹ N1, Lý Thị Tố N2, Trương Thị Diễm M1, Triệu Thùy T1 và Đào Thị Hà G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thị M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

    Xử phạt Hồ Thị M số tiền 75.000.000đ (Bảy mươi lăm triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Trả lại cho chị Huỳnh Thị Mỹ N1 01 giấy phép lái xe hạng B2, trả lại cho chị Trương Thị Diễm M1 01 căn cước công dân và trả lại cho chị Đào Thị Hà G 01 giấy phép lái xe hạng A1.

    Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án giấy mượn tiền có chữ ký của người mượn Lương Thị Thúy N và người cho mượn Hồ Thị M.

    Tịch thu, sung ngân sách nhà nước điện thoại di động hiệu Xiaomi (có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa).

  3. Biện pháp tư pháp:
    1. Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền dùng để cho vay 68.700.000đ (Sáu mươi tám triệu, bảy trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Hồ Thị M.
    2. Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền lãi 8.815.836đ (Tám triệu, tám trăm mười lăm nghìn, tám trăm ba mươi sáu đồng) đối với bị cáo Hồ Thị M.
    3. Buộc bị cáo Hồ Thị M phải trả lại cho những người vay tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội với tổng số tiền 49.384.164đ (Bốn mươi chín triệu, ba trăm tám mươi tư nghìn, một trăm sáu mươi tư đồng), cụ thể:

      Trả lại cho bà Huỳnh Thị Mỹ N1; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông 20.686.027đ (Hai mươi triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn, không trăm hai mươi bảy đồng).

      Trả lại cho bà Lý Thị Tố N2; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông 2.985.808đ (Hai triệu, chín trăm tám mươi lăm nghìn, tám trăm linh tám đồng).

      Trả lại cho bà Trương Thị Diễm M1; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông 9.465.753đ (Chín triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, bảy trăm năm mươi ba đồng).

      Trả lại cho bà Lương Thị Thúy N; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông 4.506.849đ (Bốn triệu, năm trăm lẻ sáu nghìn, tám trăm bốn mươi chín đồng).

      Trả lại cho bà Triệu Thùy T1; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông 7.232.877đ (Bảy triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi bảy đồng).

      Trả lại bà Đào Thị Hà G; địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông 4.506.849đ (Bốn triệu, năm trăm lẻ sáu nghìn, tám trăm bốn mươi chín đồng).

    4. Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền bị cáo cho chị Huỳnh Thị Mỹ N1 vay 19.600.000đ (Mười chín triệu, sáu trăm nghìn đồng) nhưng chưa trả đối với chị Huỳnh Thị Mỹ N1; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hồ Thị M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng PC06, PC10 Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND thành phố Gia Nghĩa;
  • - Cơ quan CSĐTCA thành phố Gia Nghĩa;
  • - Tổ hồ sơ nghiệp vụ CA thành phố Gia Nghĩa;
  • - CCTHADS thành phố Gia Nghĩa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ho Thi Mai phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger