Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày 24-05-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Phạm Anh Tuấn

Bà Trần Thị Trúc Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình G, sinh ngày 4 tháng 7 năm 1997 tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình D và bà Nguyễn Thị M, đều đã chết; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/12/2023; có mặt.

Bị hại: Ông Vũ Giang L, sinh năm 1947; nơi cư trú: Số B đường N, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng, đã chết.

Người đại diện hợp pháp của bị hại.

Anh Vũ Lê G1, sinh năm 1975 và chị Vũ Thị Lệ T, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số B đường N, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng, đều có mặt.

Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973 và anh Vũ Xuân Q, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Bùi Thị V; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 15/7/2023, Nguyễn Đình G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B3-113.01 (không giấy phép lái xe mô tô hạng A1), tham gia giao thông trên đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng theo hướng ngã 6 Quán T đi Cầu Niệm. Khi đến khu vực trước số nhà D đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng do G điều khiển xe mô tô vượt bên trái xe ô tô chạy liền phía trước không đảm bảo an toàn, nên xe mô tô do G điều khiển đã đâm va vào mặt ngoài bên trái phía dưới đằng sau hộp xích của xe mô tô biển kiểm soát 15B2-020.47 do ông Vũ Giang L (sinh năm: 1947; trú tại: số B N, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng) điều khiển đang di chuyển phía trước cùng chiều. Hậu quả, ông L bị ngã xuống đường thương nặng, đến 09 giờ 15 phút ngày 25/7/2023, ông Vũ Giang L bị chết.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 164/2023/KLGĐTT-TTPYHP ngày 24/8/2023 của Trung tâm P kết luận về nguyên nhân chết của ông Vũ Giang L: “Nạn nhân Vũ Giang L – sinh năm: 1947 bị tai nạn giao thông chết theo dõi do đa chấn thương, chấn thương sọ não nặng”.

Cơ quan điều tra xác định được hiện trường nơi xảy ra vụ việc như sau: “Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường trước số D đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng. Đường Trường C được chia làm hai chiều đường ngược chiều nhau có dải phân cách cứng ở giữa đường, mỗi chiều đường rộng 10,40m. Trên các chiều đường có vạch kẻ đường và biển báo làn đường dành cho ba làn xe chạy.

Xác định mép tường bên trái nhà số D đường T (nhìn theo hướng từ trong ra ngoài) làm mốc cố định, thống nhất các số đo vào mép đường bên phải đường T (theo hướng từ Ngã 6 Quán T đi Cầu Niệm) làm chuẩn.

- Số 1 trên sơ đồ hiện trường là xe mô tô mang BKS: 15B2-020.47, xe đổ nghiêng bên trái, đầu xe hướng vào vỉa hè bên phải (theo hướng từ Ngã 6 Quán T đi Cầu Niệm), đuôi xe hướng ra dải phân cách giữa đường.

Vị trí: Trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn là 7,6m, cách mốc cố định (kéo dài) 4,3m (đo vuông góc). Trục bánh cách mép đường làm chuẩn 8,9m, cách điểm hạ thấp gần nhất của dải phân cách giữa đường là 5,3m.

- Số 2 trên sơ đồ hiện trường là vết máu kích thước 2,2m x 0,7m.

Vị trí: T1 vết máu cách mép đường làm chuẩn 8,8m, cách trục bánh sau xe mô tô BKS: 15B2-020.47 là 1,4m (đo vuông góc).

- Số 3 trên sơ đồ hiện trường là xe mô tô mang BKS: 17B3-11301, xe đổ nghiêng bên trái, đầu xe hướng vào vỉa hè bên phải (theo hướng từ Ngã 6 Quán T đi Cầu Niệm), đuôi xe hướng ra dải phân cách giữa đường.

2

Vị trí: Trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 4,85m, cách trục bánh trước xe mô tô BKS: 15B2-020.47 là 5,95m, trục bánh sau cách mép đường làm chuẩn 6,15m”.

Kết quả khám phương tiện đối với xe mô tô biển kiểm soát 15B2-020.47 có các dấu vết sau:

  • “- Yếm chắn gió bên trái bị vỡ rách nhựa, bung bật khỏi vị trí lắp ráp ban đầu, kích thước trong diện 19cm x 25cm.
  • - Mặt nạ phần phía dưới bị vỡ bung bật khỏi vị trí lắp ráp ban đầu, kích thước trong diện 8,5cm x 4cm.
  • - Cạnh ngoài phía trước bên trái ốp nhựa đầu xe bị mài trượt xước mất sơn màu cam lộ nhựa màu đen phía trong, kích thước trong diện 7,5cm x 0,8cm.
  • - Mặt trước ốp nhựa bảo vệ gương chiếu hậu bên trái bị mài trượt xước bám dính tạp chất màu nâu (dạng bụi đất) kích thước trong diện 16,5cm x 2,5cm.
  • - Đầu ngoài tay lái bên trái có dấu vết mài trượt xước kim loại mất sơn màu đen kích thước trong diện 0,7cm x 0,3cm.
  • - Bàn để chân phía trước bên trái bị xô lệch theo chiều từ sau về trước để lộ đầu kim loại phía ngoài bị mài trượt xước dính tạp chất màu nâu dạng bụi đất, kích thước trong diện 2cm x 1,5cm.
  • - Nửa sau cần số bị cong vênh biến dạng theo chiều từ trái sang phải, ép sát vào phía trái thân lốc máy.
  • - Đầu ngoài cần gạt chân chống giữa mài trượt xước kim loại kích thước trong diện 1,3cm x 4cm.
  • - Mặt dưới phía sau hộp xích có dấu vết trượt xước bám dính tạp chất màu đen (dạng cao su) theo chiều từ sau về trước, từ trên xuống dưới từ trái qua phải, kích thước trong diện 13,5cm x 6cm, tâm vết cách mặt đất 21cm.
  • - Mặt ngoài bên trái ốp chắn bùn phía sau có dấu vết hằn trượt xước mất sơn màu đen bám dính tạp chất màu trắng (dạng sơn) theo chiều từ trái sang phải, từ sau về trước kích thước trong diện 11,8cm x 5cm, tâm vết cách mặt đất 56cm”.

Kết quả khám phương tiện đối với xe mô tô biển kiểm soát 17B3-113.01 có các dấu vết sau:

3

  • “- Mặt ngoài má lốp bánh trước bên phải có dấu vết trượt xước mất cao su màu đen theo chiều từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến của bánh xe, kích thước trong diện 09cm x 02cm. Điểm gần nhất cách chân van 16cm theo chiều kim đồng hồ.
  • - Mặt ngoài càng giảm sóc bánh trước bên phải phía trên có dấu vết trượt xước kim loại mất lớp sơn (mạ) màu trắng, kích thước trong diện 11,5cm x 2cm theo chiều từ trước về sau, từ phải qua trái, tâm vết cách mặt đất 46cm.
  • - Núm kim loại ở đầu ngoài tay lái bên trái có dấu vết trượt xước, kích thước trong diện 5,5cm x 1cm.
  • - Đầu ngoài bàn để chân phía trước bên trái có dấu vết dập rách cao su để lộ phần kim loại phía trong bị trượt xước, bám dính tạp chất màu trắng dạng bột đá, kích thước trong diện 2,5cm x 1,5cm.
  • - Đầu ngoài bàn để chân phía sau bên trái có dấu vết trượt xước kim loại, bám dính tạp chất màu trắng dạng bột đá, kích thước trong diện 3cm x 5cm.
  • - Cạnh ngoài thanh ngang phía dưới bên ngoài bên trái giá kim loại chở hàng gắn phía sau xe có dấu vết mài trượt xước, kích thước trong diện 21cm x 2cm".

Tại bản Kết luận giám định số 181/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận về dấu vết, điểm va chạm và tốc độ của 02 xe mô tô như sau:

“- Dấu vết trượt xước kim loại, bám dính tạp chất màu đen (dạng cao su) theo chiều từ sau về trước, từ trên xuống dưới ở mặt ngoài bên trái phía dưới đằng sau hộp xích xe mô tô mang biển kiểm soát 15B2-002.47 (Ảnh 5,6: Bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước mất cao su (màu đen) theo chiều từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến của bánh xe ở mặt ngoài má lốp ánh trước bên phải xe mô tô mang biển kiểm soát 17B3-113.01 (Ảnh 11,12: Bản ảnh giám định).

- Không đủ căn cứ xác định tốc độ của xe mô tô mang biển kiểm soát 15B2-002.47 và mang biển kiểm soát 17B3-113.01 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn”.

Tại Công văn số 2400/SGTVT-QLVTPT&NL ngày 30/11/2023 của Sở G2 cung cấp: “Nguyễn Đình G chưa được Sở G2 cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1”.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình G khai nhận G điều khiển xe mô tô theo hướng từ ngã 6 Quán T về Cầu N, khi đi đến khu vực số nhà D đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng thì G tăng tốc để vượt bên trái xe ô tô đang di chuyển cùng làn. Khi xe mô tô do G điều khiển vượt qua đầu xe ô tô thì Giầu quan sát thấy có 01 người đàn ông (tại cơ quan điều tra, G biết người này tên Vũ Giang L) điều khiển xe mô tô đang di chuyển phía trước, nên bánh trước xe mô tô của G đã đâm va vào phần hộp xích bánh sau xe của ông L, khiến ông L ngã ra đường bị thương nặng và chết. Giầu không có giấy phép lái xe theo quy định. Giầu đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông L số tiền 50.000.000 đồng.

4

Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSKA ngày 02 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Nguyễn Đình G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình G khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, và trình bày Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đình G như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình G: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đình G đã tự nguyện bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho gia đình ông Vũ Giang L. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, gia đình ông Vũ Giang L chấp nhận việc bồi thường như trên, không có ý kiến, yêu cầu gì khác nên không xem xét, giải quyết về bồi thường dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành

5

tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định pháp y và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 15/7/2023, bị cáo Nguyễn Đình G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B3-113.01 (không có giấy phép lái xe) tham gia giao thông trên đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng theo hướng ngã 6 Quán T đi Cầu Niệm, khi đi đến khu vực trước cửa số nhà D đường T phường L, quận K, thành phố Hải Phòng bị cáo G với mục đích vượt xe cùng chiều đã tăng tốc nhưng có lỗi khi không đảm bảo an toàn khi vượt xe nên xe mô tô do bị cáo G điều khiển đã va chạm với xe mô tô mang biển kiểm soát 15B2-020.47 do ông Vũ Giang L đang di chuyển cùng chiều phía trước, làm ông L bị ngã ra đường. Hậu quả, ông L bị chết vào ngày 25/7/2023. Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 164/2023/KLGĐTT-TTPYHP ngày 24/8/2023 của Trung tâm P kết luận về nguyên nhân chết của ông Vũ Giang L: “Nạn nhân Vũ Giang L - sinh năm 1947 bị tai nạn giao thông chết theo dõi do đa chấn thương, chấn thương sọ não nặng”. Bị cáo G khi tham gia giao thông đã vi phạm Điều 14. Luật an toàn giao thông quy định về trường hợp “Vượt xe: Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước...” nên phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Tại Công văn số 2400/SGTVT-QLVTPT&NL ngày 30/11/2023 của Sở G2 cung cấp: “Nguyễn Đình G chưa được Sở G2 cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1”. Tại Công văn số 8619/CĐBVN-QLVT,PT&NL ngày 14/12/2023 của Cục Đ thể hiện: “Nguyễn Đình G không có thông tin về giấy phép lái xe mô tô trên cơ sở dữ liệu giấy phép lái xe toàn quốc” kết quả xác minh trên phù hợp với lời khai của bị cáo G nên hành vi của bị cáo bị xét xử theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự “Không có giấy phép lái xe theo quy định” như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Về nhân thân: Bị cáo G không có tiền án, tiền sự.

6

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 50.000.000đ, đại diện gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Về hình phạt:

[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, tuy nhiên xét bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, khi xảy ra va chạm, bị hại cũng đang di chuyển tại làn đường dành cho xe ô tô. Mặt khác, bị cáo G lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (trong đó có 2 tình tiết tại khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự) và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo tốt, chưa tiền án, tiền sự; người đại diện hợp pháp cho bị hại tại giai đoạn điều tra có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội vì bị cáo có hoàn cảnh gia đình rất éo le; tại phiên toà người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Vũ Lê G1 và chị Vũ Thị Lệ T đều trình bày anh chị biết hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn, bố mẹ bị cáo G mất từ sớm, một mình bị cáo phải tự mưu sinh, nuôi sống bản thân từ khi còn nhỏ, bản chất bị cáo là người rất có trách nhiệm, khi sự việc xảy ra đã đến xin lỗi gia đình anh chị, đã tự nguyện bồi thường và ứng xử với gia đình bị hại phù hợp với đạo đức, văn hoá của người Việt Nam. Do vậy, tại phiên toà anh G1 và chị T tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Ngoài ra, anh Nguyễn Duyên N là chủ cửa hàng ga nơi bị cáo G đã làm thuê cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với nội dung: Bị cáo G là người làm thuê cho cửa hàng gas của anh N, bị cáo có hoàn cảnh gia đình éo le, bố mẹ chết, bị cáo tự mưu sinh từ nhỏ, trong quá trình làm thuê cho anh N bị cáo thể hiện là người lao động tốt, có trách nhiệm với công việc. Mặt khác, bị cáo Giầu có đơn trình bày với nội dung sau khi xảy ra vụ việc, bản thân bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, không có hành vi vi phạm gì, đơn của bị cáo có xác nhận của công an xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Xét bị cáo Giầu có nơi cư trú rõ ràng và có hoàn cảnh gia đình khó khăn, éo le, bố mẹ bị cáo đều đã chết. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị

7

cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cũng là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự:

[10] Bị cáo Nguyễn Đình G đã tự nguyện bồi thường số tiền là 50.000.000 đồng cho gia đình ông Vũ Giang L. Gia đình ông Vũ Giang L chấp nhận việc bồi thường như trên, không có ý kiến, yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về vấn đề bồi thường dân sự.

- Về án phí và quyền kháng cáo:

[11] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[12] Về các nội dung khác:

Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát 15B2-020.47 là xe của ông Vũ Giang L, chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên ông L. Xe mô tô biển kiểm soát 17B3-113.01 là của Nguyễn Đình G. Xác minh hai xe mô tô trên không có trong hệ thống xe vật chứng. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển kiểm soát 15B2-020.47 cho gia đình ông Vũ Giang L; trả lại xe mô tô biển kiểm soát 17B3-113.01 cho Nguyễn Đình G là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình G: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có

8

thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

  • “1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
  • 2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
  • 3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
  • 4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo pháp luật./.

9

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Kiến An;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Kiến An;
  • - Chi cục THADS quận Kiến An;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

10

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lã Anh T2

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

Hoàng Thị C1

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger