Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————

Bản án số: 49/2024/DS-ST

Ngày: 23/8/2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Thành

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thành Công
  2. Ông Trương Văn Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long và điểm cầu thành phần tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Tòa án nhân dân huyện Càng Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 287/2024/TLST-DS, ngày 05 tháng 4 năm 2024, về vụ “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 125/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955 (Có mặt tại điểm cầu thành phần UBND xã T)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1974 (Vắng mặt không lý do)

Địa chỉ: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản khai và tại phiên hòa giải ông Nguyễn Văn H trình bày: Vào ngày 17/3/2019, ông có bán thức ăn chăn nuôi cho ông Phạm Văn T với tổng số tiền thiếu đến ngày 17/7/2019 là 48.585.000 đồng đến ngày 11/3/2023 ông T trả được 7.000.000 đồng còn nợ lại số tiền 41.585.000 đồng. Khi đó, ông T có làm cam kết thỏa thuận đến ngày 11/3/2023 sẽ trả đủ số tiền còn nợ cho ông. Tuy nhiên, cho đến nay ông T vẫn chưa trả số tiền nợ.

Nay ông yêu cầu ông Phạm Văn T trả cho ông số tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ là 41.585.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) và tiền lãi 10%/năm tính từ ngày 11/3/2023 cho đến khi giải quyết xong vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T không đến Tòa. Vì vậy, không có lời khai của ông T. Do đó Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt ông T và thông báo kết quả cho ông T theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đối với giấy cam kết đề ngày 11/3/2023 thì ông H ý kiến do viết nhằm thực tế ngày cam kết là 11/3/2020. Ngoài ra, ông H không có sửa đổi, bổ sung gì.

Ông T vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Vị kiểm sát viên:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án như: Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Về vấn đề thu thập chứng cứ, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu cũng như việc gửi, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Tại phiên tòa, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung: Vị đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H. Buộc ông Phạm Văn T trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 41.585.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) và tiền lãi 0,83%/tháng tính từ ngày 11/3/2023 đến ngày 23/8/2024. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra, V đề nghị nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn T trả số tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ và tiền lãi 0,83%/tháng tính từ ngày 11/3/2023 cho đến khi giải quyết xong vụ án. Qua xác minh từ chính quyền địa phương cho biết ông Phạm Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh là phù hợp với giấy cam kết ngày 11/3/2020 do ông H nộp. Do đó, ông H đã cung cấp đầy đủ và đúng địa chỉ của bị đơn ông Phạm Văn T. Hiện nay, ông T không có mặt tại địa phương (ấp K, xã H) là cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Căn cứ Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Văn T được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập đương sự nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Càng Long quyết định xét xử vụ án vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Nội dung vụ án: Ông H cho rằng năm 2019, ông có bán thức ăn chăn nuôi cho ông Phạm Văn T với tổng số tiền thiếu đến ngày 17/7/2019 là 48.585.000 đồng đến ngày 11/3/2020 ông T trả được 7.000.000 đồng còn nợ lại số tiền 41.585.000 đồng. Khi đó, ông T có làm cam kết thỏa thuận đến ngày 11/3/2023 sẽ trả đủ số tiền còn nợ cho ông. Tuy nhiên, cho đến nay ông T vẫn chưa trả số tiền nợ. Do ông T vắng mặt nên không có lời trình bày. Tuy nhiên, qua xác minh từ chính quyền địa phương là ông Nguyễn Văn Đ cho biết vào khoảng 02 (Hai năm) năm trước gia đình ông H có nhiều lần đến địa phương tìm gặp ông T để yêu cầu thanh toán nợ nhưng do ông T không có mặt tại địa phương nên có nhờ ông liên hệ với ông T qua số điện thoại 0975.991.xxx, qua trao đổi thì ông T thừa nhận còn nợ ông H số tiền mua bán thức ăn và cam kết sẽ trả dần cho đến khi hết số nợ. Ngoài ra, theo lời cung cấp thông tin của người thân của ông T là anh Phạm Chi D cho biết cách đây 05 (Năm) năm ông T có làm thuê cho ông H (Chở thức ăn cho khách hàng) thời điểm này ông T cũng có chăn nuôi heo và lấy thức ăn từ ông H nhưng do làm ăn thua lỗ, phía ông H có nhiều lần đến yêu cầu ông T trả nợ nhưng đến nay ông T vẫn chưa trả được. Thể hiện, biên nhận ngày 11/3/2023 là có thật nên yêu cầu khởi kiện của ông H là có cơ sở.

[4] Về lãi suất: Xét yêu cầu tính lãi của ông Nguyễn Văn H yêu cầu ông Phạm Văn T trả tiền lãi từ ngày 11/3/2023 cho đến ngày 23/8/2024 với lãi suất 0,83%/tháng. Xét yêu cầu trả lãi trên tiền nợ gốc này của ông H là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 440, khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nên cần chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H được chấp nhận nên ông Phạm Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long là phù hợp quy định pháp luật được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39; 147, 177, 179, 227, 228, 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 274, 280, 351, 357, 440, 466 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91, khoản 1, 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H.

    Buộc ông Phạm Văn T phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 47.614.825 đồng (Bốn mươi bảy triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, tám trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó, vốn gốc là 41.585.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) và tiền lãi 0,83%/ tháng tính từ ngày 11/3/2023 đến ngày 23/8/2024 là 6.029.825 đồng (Sáu triệu, không trăm hai mươi chín nghìn, tám trăm hai mươi lăm đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phạm Văn T phải chịu 2.380.741 đồng (Hai triệu, ba trăm tám mươi nghìn, bảy trăm bốn mươi mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Nguyễn Văn H không phải nộp án phí.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đưng sự biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Càng Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

5

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nhật Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 49/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng mua bán
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger