Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q.HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 22/12/2023

V/v "Ly hôn"


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng và bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Cán bộ TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/QĐXX-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn : Bà Ngô Thị Kiều L - sinh năm 1995 ; địa chỉ: Tổ 41 phường Hòa Thuận Đ, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên hệ: Tổ 02 Thôn Phước H, xã Hòa N, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, (có mặt).

- Bị đơn: Ông Bùi Văn M - sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ 41 phường Hòa Thuận Đ, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm Nghị K, xã Nghi K, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, (có đơn xin xét xử vắng mặt).


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 03/10/2023 và tại phiên tòa hôm nay bà Ngô Thị Kiều L trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Kiều L và ông Bùi Văn M kết hôn với nhau vào năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Thuận Đ, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, bà L và ông M sống tại tổ 41 phường Hòa Thuận Đông, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Quá trình chung sống vợ chồng đến ngày 10/7/2022 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông M phạm tội, bị kết án tử hình và đang bị giam tại Trại tạm giam Nghị K, xã Nghi K, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nên vợ chồng không còn chung sống được với nhau. Nay bà L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn để sống chung, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được L hôn với ông Bùi Văn M.

- Về nuôi con chung : Bà L và ông M có 01 con chung là Bùi Mỹ D - sinh ngày 25/9/2019.

Ly hôn, bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L trình bày bà và ông M không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, ông M có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng tại đơn trình bày ngày 07/11/2023 và bản tự khai ngày 08/11/2023 ôngM thống nhất trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Kiều L và ông Bùi Văn M kết hôn với nhau vào năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Thuận Đ, quận Hải Châu,thành phố Đà Nẵng trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, bà L và ông M sống tại tổ 41 phường Hòa Thuận Đ, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc nhưng do năm 2021 ông M phạm tội, bị kết án tử hình và đang bị giam tại trại tạm giam Nghị Kim, xã Nghi K, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nên vợ chồng không còn chung sống với nhau được nữa. Nay bà L xin ly hôn ôngM, ông M đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết cho ông và bàL được ly hôn.

- Về nuôi con chung : Ông M và bà L có 01 con chung là Bùi Mỹ Dn - sinh ngày 25/9/2019.

Ly hôn, ôngM đồng ý giao con chung cho bàL trực tiếp nuôi dưỡng, ôngM không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông M trình bày ông và bà L không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xinL hôn của bà Ngô Thị Kiều L đối với ông Bùi Văn M.

- Về con chung : Bà L và ông M có 01 con chung là Bùi Mỹ D - sinh ngày 25/9/2019.

Giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông M không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Kiều L và ông Bùi Văn M kết hôn với nhau vào năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Thuận Đ, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Tại phiên tòa, bà L xin ly hôn hôn với ông M vì cho rằng ông M đang thụ án tử hình, vợ chồng không thể sống chung, tình cảm của bà dành cho ông M không còn. Ông M vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại nhưng tại đơn trình bày ngày 07/11/2023 và bản tự khai ngày 08/11/2023 ông cũng đồng ý ly hôn vì cho rằng hiện ông đang thụ án tử hình, không thể chung sống với bà L.

Xét yêu cầu của bà L và ý kiến của ôngM thì thấy: Bà L và ông M đều thống nhất vợ chồng không thể tiếp tục chung sống do ôngM đang bị giam chờ chấp hành án với hình phạt tử hình. Tình cảm của bàL đối với ôngM không còn. Qua xác minh tại địa phương thì được biết hiện nay bàL đã không còn sinh sống tại tổ 41 phường Hòa Thuận Đông mà đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bàL và ôngM trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bàL là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

2.2 Về nuôi con chung: BàL và ôngM có 01 con chung tên là Bùi Mỹ D - sinh ngày 25/9/2019.

Tại phiên tòa, bàL có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ôngM cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn trình bày ngày 07/11/2023 và bản tự khai ngày 08/11/2023, ôngM cũng thống nhất như ý kiến của bàL. HĐXX xét thấy hiện nay, bàL đang trực tiếp nuôi con chung, do vậy cần tiếp tục giao con chung của ôngM và bàL cho bàL trực tiếp nuôi dưỡng, ôngM không cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với các Điều 58,81,82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên thực hiện theo quy định của pháp luật.

2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa, bàL xác định bà và ôngM không có tài sản chung, không nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại đơn trình bày ngày 07/11/2023 và bản tự khai ngày 08/11/2023, ôngM cũng thống nhất với ý kiến của bàL nên HĐXX không đề cập đến.

[3] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bàL phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;


QUYẾT ĐỊNH


Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81,82,83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Kiều L về việc”ly hôn” đối với ông Bùi Văn M.

Xử:

1. Về hôn nhân:

Cho bà Ngô Thị Kiều L ly hôn ông Bùi Văn M.

2. Về con chung:

BàL và ôngM có 01 con chung tên là Bùi Mỹ Duyên - sinh ngày 25/9/2019.

Giao con chung cho bàL trực tiếp nuôi dưỡng. ÔngM không cấp dưỡng nuôi con.

Quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên thực hiện theo quy định của pháp luật.

3.Về tài sản chung và nợ chung:

BàL xác định bà và ôngM không có tài sản chung, không nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.

4. Án phí HNGĐ-ST

300.000 đồng bà Ngô Thị Kiều L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bàL đã nộp theo biên lai thu số 1350 ngày 24 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. BàL đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.


Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q Hải Châu;
  • - Cơ quan THADS Q. Hải Châu;
  • - UBND phường Hòa Thuận Đ;
  • (TLKHSỐ 98, ngày 23/9/2019);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Phạm Thị Hồng Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2023/HNGĐ-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn

  • Số bản án: 49/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà L xin ly hôn ông M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger