Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-PT

Ngày 19-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.

Các thẩm phán: - Ông Vũ Duy Luân

- Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

* Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1996, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Vũ Thị M; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1958 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • - Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1954 (là chồng của bị hại);
  • Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  • - Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1980 (là con của bị hại)
  • Địa chỉ: Phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Chị Vũ Thị Ngọc H, sinh năm 1983 (là con của bị hại)
  • Địa chỉ: Phường V, quận H, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Vũ Thị T1 và chị Vũ Thị Ngọc H: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1954; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Có mặt: Bị cáo, ông T; Vắng mặt: chị T1, chị H)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 05/12/2023, bị cáo Nguyễn Thành Đ (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiểu xe mô tô Yamaha Excter biển kiểm soát 17B8-251.67 của bị cáo đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường bê tông thôn H, xã Đ đi hướng thôn P, xã Đ với đường ĐT464 thuộc địa phận thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 70km/h và đi ở phần đường bên phải theo hướng xã Đ đi xã Đ. Do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi vào ngã tư đường giao nhau nên không phát hiện ra ông Vũ Đình T2 điều khiển xe đạp điện chở phía sau là bà Nguyễn Thị M1 (vợ ông T2) đi theo hướng từ thôn H, xã Đ sang thôn P, xã Đ ở phía trước. Thời điểm này ông T2 điều khiển xe đi chậm và đã đi gần hết ngã tư, đầu xe của ông T2 điều khiển đã chạm mép đường bê tông đi vào thôn P, xã Đ. Khi bị cáo cách xe của ông T2 khoảng 7-10 mét bị cáo mới phát hiện ra ông T2, bị cáo không làm chủ được tay lái nên xe bị cáo đã đâm vào phần giữa bên phải xe đạp điện do ông T2 điều khiển, khiến người và các phương tiện đổ ra đường. Hậu quả bà M1 bị đa chấn thương được cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa huyện T sau đó chuyển đi bệnh viện đa khoa tỉnh T và chết trên đường đi cấp cứu, ông T2 bị xây xát nhẹ, bị cáo bị chấn thương vùng mặt.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1750/KLGĐTT-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị M1 chết do chấn thương sọ não.

Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 02 (hai) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Ngày 07/5/2024, bị cáo Nguyễn Thành Đ kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên toà:

- Bị cáo trình bày: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã kết luận. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố bị cáo đã mất, ông nội là liệt sĩ, bị cáo và mẹ còn chăm sóc bà nội đã già yếu và nuôi cháu nhỏ 6 tháng tuổi là con của anh trai bị cáo. Vì vậy, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo cho bị cáo được cải tạo tại địa phương sửa chữa sai phạm trở thành công dân có ích cho xã hội.

- Đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Đình T trình bày: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo thường xuyên đến tham hỏi, động viên và bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình ông. Hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố bị cáo đã mất, ông nội là liệt sĩ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành Đ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình và cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thành Đ có đơn kháng cáo đảm bảo về thủ tục và thời hạn kháng cáo. Kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành Đ: Khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 05/12/2023, tại đoạn đường khu vực ngã tư giao nhau giữa đường bê tông thôn H, xã Đ đi hướng thôn P, xã Đ với đường Đ, bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B8-251.67 theo hướng xã Đ đi xã Đ, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi vào ngã tư nên đầu xe mô tô do bị cáo điều khiển đã đâm vào phần giữa bên phải xe đạp điện do ông Vũ Đình T2 điều khiển chở vợ là bà Nguyễn Thị M1 đi hướng từ thôn H đi thôn P, ông T2 đã sang gần hết ngã tư đường. Hậu quả bà M1 chết do chấn thương sọ não. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9, 23 Điều 8; khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đường bộ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật và xử phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp, tuy nhiên buộc bị cáo phải cách ly xã hội là có phần nghiêm khắc.

[3] Xét thấy, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp các tài liệu, chứng cứ thể hiện bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo đã chết, bị cáo là lao động chính trong gia đình, ông nội là liệt sĩ, gia đình bị cáo đang chăm sóc bà nội đã già yếu và nuôi cháu nhỏ 6 tháng tuổi là con của anh trai bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương do đó bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2022/VBHN-HĐTP ngày 07/9/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành Đ, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
    1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
    2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

      Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thành Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - CA, VKS, TA, CCTHADS h. Tiền Hải;
  • - UBND xã Đông Minh, h. Tiền Hải;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đã ký

Phạm Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 49/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger