|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày 21-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Tấn Đồng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Thành Tam – Nguyên Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Mang Thít
Ông Nguyễn Văn Bảy – Phó trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mang Thít
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bảo, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
- Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1983 tại Trạm y tế xã B, huyện M. Nơi cư trú ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X (chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Trần Thị Kim N1 và có 02 con. Lớn sinh năm 2009 và nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2024 đến nay (có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Ngọc Thu S, sinh ngày 27/01/2009; nơi cư trú ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có đơn đề nghị vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị Kim N1, sinh năm 1986; nơi cư trú ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có đơn đề nghị vắng mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Phan Thanh T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Ngọc N và bị hại Nguyễn Ngọc Thu S có mối quan hệ huyết thống là cha con ruột.
Vào khoảng tháng 3 năm 2022, sau đám giỗ cha của bị cáo N, khoảng một tuần (đám giỗ vào ngày 19/02 âm lịch hàng năm, vào năm 2022 là nhằm ngày 21/3/2022), vợ Nữa là bà Trần Thị Kim N1, đi về quê ở Tiền Giang để đem thức ăn (mực) về cho gia đình. Đến khoảng 14 giờ ngày hôm sau, trong lúc N và S đang nằm trên nệm được đặt trên nền gạch, trong phòng ngủ của vợ chồng N xem điện thoại, thì N nảy sinh ý định thực hiện hành vi quan hệ tình dục với S. Sau đó N và S đã tự nguyện quan hệ tình dục với nhau 01 lần. Kể từ thời điểm đó, N tiếp tục thực hiện hành vi quan hệ tình dục với S nhiều lần trong nhà. Đến khoảng 20 giờ, ngày 12/02/2024 (nhằm ngày Mùng 3 Tết Nguyên đán năm 2024), tại phòng ngủ của vợ chồng N, N và S đã tự nguyện quan hệ tình dục với nhau 01 lần.
Đến ngày 14/02/2024, S kể lại sự việc trên cho cô ruột là bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm: 1979, nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện M biết. Ngày 19/02/2024, bà V đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện M tố giác sự việc trên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 44/KLTDTE-TTPY, ngày 23/02/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh V. Kết luận các dấu vết thu thập được của Nguyễn Ngọc Thu S như sau:
- Âm hộ: Bình thường.
- Màng trinh: có 4 vị trí rách cũ, rách nông ở các điểm 1 giờ, 5 giờ, 9 giờ, rách sâu ở vị trí 7 giờ.
Ngày 28/02/2024, bị cáo N bị khởi tố về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” và bị tạm giam cho đến nay.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 (một) viên thuốc tân dược, loại viên nén dạng tròn, màu vàng, bên ngoài có bao bằng nhựa trong suốt, trên viên thuốc có số “10”; trên bao thuốc có chữ “...ifred...” và “...riston 10mg”. Đây là viên thuốc tránh thai mà bị cáo đã mua đưa cho bị hại để uống sau khi quan hệ tình dục, có liên quan đến vụ án nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Hiện nay người đại diện hợp pháp của bị hại và bị hại, không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường thiệt hại và đó đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKS.HMT ngày 24 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, theo quy định tại các điểm a, c, e khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị áp các điểm a, c, e khoản 2, khoản 4 Điều 145; Điều 38; Điều 46; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có yêu cầu nên không xét. Về vật chứng tịch thu tiêu hủy viên thuốc tránh thai và về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại thống nhất với ý kiến của bị hại và đề nghị của Kiểm sát viên, không có đề nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc N khai nhận: Bị cáo và bị hại có mối quan hệ huyết thống là cha con ruột.
Vào khoảng tháng 3 năm 2022, tại nhà của bị cáo, thuộc: ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với con ruột của mình là bị hại, tại thời điểm đó thì bị hại mới được 13 tuổi 02 tháng. Sau đó bị cáo tiếp tục quan hệ tình dục với bị hại nhiều lần và lần cuối cùng là vào ngày 12/02/2024.
Xét; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại toà, phù hợp với lời khai của bị hại, kết quả giám định và phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận Nguyễn Ngọc N phạm tội: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, theo quy định tại các điểm a, c, e khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể đặc biệt được luật hình bảo vệ, đó là quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người chưa thành niên. Hành vi của bị cáo không những vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội mà còn gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có cha ruột là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương giải phóng hạng Nhất và Huân chương kháng chiến hạng Nhất, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không có yêu cầu nên không xét.
[4] Về vật chứng: 01 (một) viên thuốc tân dược, loại viên nén dạng tròn, màu vàng, bên ngoài có bao bằng nhựa trong suốt, trên viên thuốc có số “10”; trên bao thuốc có chữ “...ifred...” và “...riston 10mg”. Xét đây là vật có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là có căn cứ nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điểm a, c, e khoản 2, khoản 4 Điều 145; Điều 38; Điều 46; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
- Phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/02/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không có yêu cầu nên không xét.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) viên thuốc tân dược, loại viên nén dạng tròn, màu vàng, bên ngoài có bao bằng nhựa trong suốt, trên viên thuốc có số “10”; trên bao thuốc có chữ “...ifred...” và “...riston 10mg".
(Vật chứng hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án).
- Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc N phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án xử kín sơ thẩm có mặt bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trương Tấn Đồng |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về vụ án hình sự: giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giao cấu
