Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày 21 tháng 5 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Phan Thùy Trang và bà Trương Thị Bích Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phát Huy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

- Nguyễn Thế T (C), sinh năm 1979, nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ E, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế H (chết) và bà Võ Thị K, sinh năm 1956; vợ Nguyễn Thị Đ, con có 02 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2001; bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án: Ngày 28/3/2019, Tòa án thành phố R, tỉnh Kiên Giang kết án 3 năm 6 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 05/12/2021, chấp hành xong.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay.

- Nguyễn Tuấn T1, sinh năm 1998, nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1959; vợ là Nguyễn Thị Cẩm T3, sinh năm 1997; con có 01 người; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người nhỏ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị Cẩm T3, sinh năm 1997, nơi cư trú: Khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang;
  • - Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975, nơi cư trú: Tổ 05, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • - Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1964, nơi cư trú: Khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Người làm chứng:

  • - Trần Trung Minh H1, sinh năm 200, vắng mặt;
  • - Phạm Phú Sỷ B, sinh năm 1975, vắng mặt;
  • - Huỳnh Thị Mộng L, sinh năm 1982, vắng mặt;
  • - Nguyễn Thị Ý L1, sinh năm 1995, vắng mặt;
  • - Kiều Quang T4, sinh năm 1982;
  • - Hà Thị Ánh H2, sinh năm 1997, vắng mặt;
  • - Trà Thị Minh T5, sinh năm 1994, vắng mặt;
  • - Huỳnh Văn H3, sinh năm 1969, vắng mặt;
  • - Phạm Thanh H4, sinh năm 1984, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 06/11/2023, Nguyễn Tuấn T1 đang tư vấn bán đồ nội thất cho khách bên trong cửa hàng “X” nghe T4 ngồi phía trước nói “rồi chuyện gì tới nữa rồi”; lúc này, Nguyễn Thế T đi đến đứng trước cửa hàng “Xuân Hồng” cầm 01 cây dao bằng kim loại màu đen dài 41,5 cm, chửi T1 rồi cầm dao nhá chém về hướng T1 và thách thức đánh nhau thì được Bảnh can ngăn kéo T đi vào hẻm H cách đó khoảng 30 mét, giật lấy dao của T ném xuống đất. Tức giận việc bị Tường chửi, T1 vào bên trong cửa hàng “Xuân Hồng” lấy 01 cây dao tự chế dài khoảng 61 cm đi ra đường định chém nhau với T nhưng không thấy nên T1 cầm dao điều khiển xe chạy về hướng hẻm H thì thấy T đứng trong hẻm cùng B. T1 dừng xe, cầm dao bằng tay phải xông vào chém nhau với T, T nhặt lấy 2 cây dao, trong tư thế đứng đối diện cách nhau khoảng 01 mét, T cầm dao bằng tay phải chém 01 nhát hướng từ trên xuống, T1 đưa tay lên đỡ thì trúng cẳng tay trái và vùng đầu, T tiếp tục chém 02 cái trúng vào mặt bàn tay trái, đỉnh đầu và cằm bên trái của T1 gây thương tích; T1 cầm dao bằng tay phải chém 03 nhát hướng từ trên xuống và hướng ngang trúng vào sau gáy bên trái kéo dài đến lỗ tai và trúng vào cổ tay trái, bụng T, lúc này T1 dùng tay trái nắm lấy tay phải cầm dao của T giật lấy được cây dao của T, tiếp tục T1 dùng cây dao của T1 chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống từ

phải sang trái, T đưa tay trái đỡ trúng vào cẳng tay trái gây thương tích rồi T1 dùng chân đạp 01 cái vào ngực của T thì được người dân gần đó can ngăn đưa cả hai đến Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh tại thành phố C cấp cứu.

Ngày 10/11/2023 và ngày 17/11/2023 T1, T có đơn yêu cầu xử lý hình sự.

Vật chứng thu giữ: 01 cây dao bằng kim loại màu đen dài 41,5 cm, cán dao dài 11,5cm, lưỡi dao dài 30cm; 01 cây dao dài 61 cm, cán bằng kim loại màu trắng dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 38,5cm; 01 xe mô tô biển số 67H1- 6880, lốc máy hiệu Honda, màu sơn nâu, số khung: 001336, số máy: 0383573, đã qua sử dụng.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y tế quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần xác định phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả các thương tích gây nên của Nguyễn Thế T tại thời điểm giám định là 34%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại bản kết luận số 764/23/KLTTCT- TTPY ngày 08/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A là 20%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 47%.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số 763/23/KLTTCT- TTPY ngày 08/11/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh A, ghi nhận các thương tích của Nguyễn Tuấn T1 như sau: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 12%.

Ngày 06/12/2023 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C ban hành các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với T và T1 về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKSD-HS ngày 12/4/2024, Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thế T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Tuấn T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo T, T1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể là biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, vật chứng thu giữ trong vụ án, kết luận giám định pháp y về thương tích, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được Cơ quan điều tra thu thập đúng trình tự thủ tục luật định.

Từ đó, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thế T đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Tuấn T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, thể hiện sự xem thường pháp luật, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do các bị cáo gây ra, để đáp ứng yêu cầu giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo T có 01 tình tiết tăng nặng “tái phạm”; về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được bị hại T1 có đơn không yêu cầu xử lý hình sự; học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, được áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo T1 không tiền án, tiền sự; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được bị hại T có đơn không yêu cầu xử lý hình sự; cha của bị cáo T1 được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang; học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T1 từ 6 năm đến 7 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 19/12/2023).

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T từ 03 năm đến 04 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 19/12/2023).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao bằng kim loại màu đen dài 41,5 cm, cán dao dài 11,5cm, lưỡi dao dài 30cm; 01 cây dao dài 61 cm, cán bằng kim loại màu trắng dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 38,5cm là các công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

Trả lại xe mô tô biển số 67H1 – 6880, lốc máy hiệu Honda, màu sơn nâu, số khung: 001336, số máy: 0383573 cho Nguyễn Thanh T2.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T xác định đã nhận số tiền bồi thường 10.000.000 đồng và tiếp tục yêu cầu bị cáo T1 bồi thường tiếp số tiền 20.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo T1 chấp nhận. Do đó, đề nghị HĐXX buộc bị cáo T1 có trách nhiệm bồi thường cho bị cáo T số tiền 20.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[3] Về hành vi phạm tội:

Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo với các chứng cứ đã được thu thập được trong quá trình điều tra, được thẩm tra tại phiên tòa cùng lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thế T đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm, chém nhiều nhát vào người Nguyễn Tuấn T1 gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Bị cáo Nguyễn Tuấn T1 đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm, chém nhiều nhát vào người Nguyễn Thế T gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 47%. Cho nên hành vi của các bị cáo Nguyễn Tuấn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Thế T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ vụ án:

Sức khỏe là vốn quý của mỗi cá nhân và là nền tảng để mỗi người lao động, phát triển. Chính vì vậy, quyền được an toàn về sức khỏe của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đối với những người xâm phạm đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất, là hình phạt. Các bị cáo cũng là bị hại Nguyễn Thế T, Nguyễn Tuấn T1 là người trưởng thành, khỏe mạnh, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ ý thức trách nhiệm hành vi, việc làm của bản thân. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo biết rõ việc xâm phạm sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật, do các bị cáo có mâu thuẫn từ trước, bị cáo T có hành vi chửi bị cáo T1 rồi cầm dao nhá chém về hướng T1 và

thách thức đánh nhau, nên giữa bị cáo T1 và T xảy ra đánh nhau, bị cáo Nguyễn Thế T đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm, chém nhiều nhát vào người Nguyễn Tuấn T1 gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%; bị cáo Nguyễn Tuấn T1 đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm, chém nhiều nhát vào người Nguyễn Thế T gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 47%. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến sức khoẻ của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do các bị cáo gây ra, để đáp ứng yêu cầu giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo T ngày 28/3/2019, bị Tòa án thành phố R, tỉnh Kiên Giang kết án 3 năm 6 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 05/12/2021, chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được bị hại T1 có đơn không yêu cầu xử lý hình sự; học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T1 không tiền án, tiền sự; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được bị hại T có đơn không yêu cầu xử lý hình sự; cha của bị cáo T1 được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang; học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Đối với 01 cây dao bằng kim loại màu đen dài 41,5 cm, cán dao dài 11,5cm, lưỡi dao dài 30cm; 01 cây dao dài 61 cm, cán bằng kim loại màu trắng dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 38,5cm là các công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển số 67H1 – 6880, lốc máy hiệu Honda, màu sơn nâu, số khung: 001336, số máy: 0383573, không liên quan đến tội phạm, xét giao trả lại cho ông Nguyễn Thanh T2.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại bị cáo T, cũng là bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu bị cáo T1 bồi thường thiệt hại về sức khỏe bao gồm (chi phí điều trị, mất thu nhập trong thời gian dưỡng bệnh, tổn thất tinh thần) với số tiền 150.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình tranh luận, phân tích các quy định pháp luật có liên quan đến trách nhiệm bồi thường và mức bồi thường HĐXX nêu ra, T đã rút lại một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Cụ thể, T chỉ yêu cầu bị cáo T1

bồi thường thiệt hại về sức khỏe với tổng số tiền 30.000.000 đồng (đã bồi thường trước đó 10.000.000 đồng) nên tiếp tục bồi thường thêm 20.000.000 đồng. Bị cáo T1 chấp nhận bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho T sau khi trừ đi số tiền trước đó còn lại 20.000.000 đồng.

Xét bị cáo T1 là người thành niên nên phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe đã gây ra cho T theo khoản 1 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, bị cáo T1 và T thống nhất mức bồi thường là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, buộc bị cáo T1 bồi thường cho bị cáo T (cũng là bị hại) với số tiền 20.000.000 đồng.

[8] Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Riêng, bị cáo T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế T, Nguyễn Tuấn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T (C): 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo T được tính kể từ ngày bắt tạm giam ngày 19/12/2023.

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn T1 phạm tội “ Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T1: 06 năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo T1 được tính kể từ ngày bắt tạm giam ngày 19/12/2023.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn T1 có trách nhiệm bồi thường cho Nguyễn Thế T (C) số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao bằng kim loại màu đen dài 41,5 cm, cán dao dài 11,5cm, lưỡi dao dài 30cm; 01 cây dao dài 61 cm, cán bằng kim loại màu trắng dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 38,5cm là các công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

Trả lại xe mô tô biển số 67H1 – 6880, lốc máy hiệu Honda, màu sơn nâu, số khung: 001336, số máy: 0383573 cho Nguyễn Thanh T2.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ các Điều 135, 136, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Riêng, bị cáo T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo T, bị cáo T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan T3, T2 có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thành phố;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà Tạm giữ;
  • - Phòng hồ sơ;
  • - Chi cục THADS thành phố;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Quang Chân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T và T1 phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger