|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phi Khanh.
Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai: Bà Phạm Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 521/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-DS ngày 07-5-2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2025/QĐST-DS ngày 22-5-2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; địa chỉ: T, số A T, phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L - Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ.
Đại diện theo ủy quyền của ông Lê Ngọc L: Ông Đặng Văn Q - Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N1.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đặng Thế S - Phó Trưởng phòng Khách hàng 3 Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1; địa chỉ: A T, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1993; địa chỉ: B Q, tổ D, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2024 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ trình bày:
Theo hợp đồng tín dụng số: 01/2023/15460917/HĐTD ngày 28-6-2023, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã cho anh Nguyễn Thành T vay tổng số tiền 800.000.000 đồng, mục đích là mua bán kinh doanh quần áo; ngày giải ngân 28-6-
1
2023; ngày đến hạn gốc 28-5-2024; ngày đến hạn lãi 05-01-2024.
Để bảo đảm cho khoản vay, anh Nguyễn Thành T đã thế chấp quyền sử dụng đối với:
Thửa đất số 104, tờ bản đồ số 39, diện tích 242,9m² tại tổ B, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 031471 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 08-7-2022 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2022/15460917/HĐBĐ ngày 21-7-2022.
Các hợp đồng này được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.
Theo hợp đồng tín dụng số: 01/2023/15460917/HĐTD ngày 28-6-2023 thì khoản vay đã quá hạn. Ngân hàng TMCP Đ đã thông báo nợ và mời anh T đến làm việc để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng không đạt kết quả.
Xét thấy không còn khả năng tự thương lượng để giải quyết thu hồi nợ, Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giải quyết, buộc anh Nguyễn Thành T thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Trên cơ sở này, Ngân hàng TMCP Đ1 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xem xét:
Buộc anh Nguyễn Thành T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ, thông qua Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh N1 số tiền 864.784.334 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 10-7-2024 đến ngày thanh toán hết nợ vay tại Ngân hàng, bao gồm:
Nợ gốc: 800.000.000 đồng.
Lãi vay và phí chậm trả: 64.784.334 đồng (tạm tính đến ngày 09-7-2024).
Lãi vay phát sinh từ ngày 10-7-2024 đến ngày thanh toán hết nợ vay tại Ngân hàng.
Tính đến ngày 29-5-2025 tổng nợ vay gốc và lãi là 958.351.941 đồng. Trong đó:
Nợ gốc: 800.000.000 đồng.
Nợ lãi: 158.351.941 đồng, gồm lãi trong hạn: 131.989.042 đồng, lãi quá hạn: 26.362.899 đồng.
Trường hợp anh Nguyễn Thành T không thanh toán dứt điểm tiền nợ cho Ngân hàng TMCP Đ thì đề nghị phát mại toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2022/15460917/HĐBĐ ngày 21/7/2022. Các tài sản bảo đảm khi phát mại nếu không đủ trả nợ thì anh T phải dùng tài sản khác để thực hiện nghĩa vụ trên.
2. Đối với bị đơn anh Nguyễn Thành T:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ: Thông báo thụ lý vụ án; Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh Nguyễn Thành T vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại biên bản xác minh ngày 12-02-2025: Anh Nguyễn Thành T là công dân cư trú tại địa phương, đăng ký hộ khẩu thường trú tại B Q, phường I, thành phố P,
2
tỉnh Gia Lai. Tại thời điểm xác minh, anh T vẫn đang sinh sống tại địa chỉ trên cùng mẹ ruột là bà Đỗ Thị H.
3. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án trong quá trình giải quyết vụ án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp và phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Đề nghị xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Căn cứ Điều 147, Điều 157 BLTTDS và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị đơn anh Nguyễn Thành T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Thành T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp anh Nguyễn Thành T không trả được nợ thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tại thời điểm khởi kiện và thụ lý vụ án, anh Nguyễn Thành T có địa chỉ tại B Q, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai và vụ án không có yếu tố nước ngoài, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn không có yêu cầu phản tố, vắng mặt lần thứ hai, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, áp dụng Điều 91, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Thành T và giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án.
3
[4]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
4.1. Về tính pháp lý của các hợp đồng:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ là tổ chức tín dụng được phép hoạt động cấp tín dụng theo đúng Giấy phép kinh doanh; anh Nguyễn Thành T là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng số: 01/2023/15460917/HĐTD ngày 28-6-2023; Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 02/2022/15460917/HĐBĐ ngày 21/7/2022 được ký kết giữa nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ với bị đơn là anh Nguyễn Thành T do các bên tự nguyện thỏa thuận, không trái quy định pháp luật, đều hợp pháp, có hiệu lực pháp luật, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Do đó, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng nội dung đã ký kết tại các hợp đồng.
4.2. Về yêu cầu trả nợ gốc:
Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã giải ngân cho anh Nguyễn Thành T đủ số tiền mà các bên đã ký kết. Anh T đã vi phạm thời hạn trả tiền, không trả tiền gốc và tiền lãi phát sinh của hợp đồng. Tính đến ngày 29/5/2025, tổng số tiền gốc mà anh T còn nợ lại là 958.351.941 đồng nên anh T phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền này.
4.3. Về yêu cầu trả nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn:
Xét thấy bảng kê tính lãi đối với khoản vay của anh T do Ngân hàng cung cấp, việc xác định nợ gốc còn lại, cách tính lãi trong hạn, lãi quá hạn của Ngân hàng phù hợp với lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay theo hạn mức và phù hợp quy định pháp luật tại thời điểm cho vay; mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, anh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về số tiền nợ gốc, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn nên thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối tình tiết, sự kiện...mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Vì vậy, buộc anh T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền lãi 158.351.941 đồng, gồm lãi trong hạn: 131.989.042 đồng, lãi quá hạn: 26.362.899 đồng.
[5]. Về xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/2022/15460917/HĐBĐ ngày 21/7/2022 đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 39 tại tổ B, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai theo GCNQSDĐ số DÐ 031471 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 08-7-2022 cho ông Nguyễn Thành T.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22-4-2025, thể hiện: Thửa đất số 104 sau khi đo đạc xác định có kích thước và tứ cận cụ thể như sau:
Phía Đông thửa đất số 771 có chiều dài 4,9m;
Phía Tây giáp đường hẻm có chiều dài 4,9m;
Phía Nam giáp thửa đất 736 và 737 (đất ông P) có chiều dài 49,47m;
Phía Bắc giáp thửa đất 740 và 741 (đất ông L1) có chiều dài 49,74m;
Diện tích đất sau khi đo đạc thực tế là: 242,9m².
Hiện trạng sử dụng đất và tài sản trên đất: Có 01 nhà ở riêng lẻ, móng xây đá, tường xây gạch, nền xi măng, trần ván ép, tường trát vữa sơn nước, không có sê
4
nô mặt trước; mái lợp tôn có diện tích 110m², có 01 mái hiên có diện tích 41,8m²; 01 giếng đào có đường kính 1,2m, sâu trung bình 25m. Tại thời điểm thẩm định, căn nhà trên do bà Đặng Thị Bích T1, sinh năm 1987 đang quản lý và sử dụng. Bà T2 không có ý kiến gì về việc xem xét, thảm định và xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp ông Nguyễn Thành T không thanh toán được nợ cho Ngân hàng.
Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 02/2022/15460917/HĐBĐ ngày 21/7/2022 được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật, tuân thủ đúng quy định tại Điều 317 Bộ luật dân sự nên có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên. Theo hợp đồng, anh T tự nguyện thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng, hợp đồng cũng xác định Ngân hàng có quyền đề nghị Tòa án kê biên tài sản thế chấp nếu bên thế chấp vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng; Mặt khác, quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ, nguyên đơn, bị đơn không có ý kiến gì về kết quả đo đạc, đất không có ai tranh chấp, tài sản thế chấp đúng với nội dung tại các hợp đồng thế chấp. Do đó, trường hợp anh T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự. Trường hợp phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì anh T phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
[6]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ của Ngân hàng là có căn cứ, nên anh Nguyễn Thành T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp.
[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2026/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Anh Nguyễn Thành T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[8]. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 274, 275, 278, 280, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;
Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
5
Buộc anh Nguyễn Thành T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, thông qua Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh N1; địa chỉ: A T, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai tổng số tiền nợ vay gốc và lãi, tính đến ngày 29-5-2025 là 958.351.941 đồng. Trong đó:
Nợ gốc: 800.000.000 đồng.
Nợ lãi: 158.351.941 đồng, gồm lãi trong hạn: 131.989.042 đồng, lãi quá hạn: 26.362.899 đồng.
Trường hợp anh Nguyễn Thành T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ các khoản nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 02/2022/15460917/HĐBĐ ngày 21/7/2022 đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 39 tại tổ B, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai theo GCNQSDĐ số DÐ 031471 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 08-7-2022 cho anh Nguyễn Thành T.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu anh Nguyễn Thành T phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh Nguyễn Thành T còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất phải tiếp tục thành toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Thành T phải chịu 40.750.558 đồng (Bốn mươi triệu bảy trăm năm mươi nghìn năm trăm năm mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.971.700 đồng (Mười tám triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn bảy trăm đồng) theo biên lai tạm ứng án phí số 000954 ngày 25-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
3. Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Thành T phải chịu 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã nộp đủ số tiền 6.600.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do đó, anh Nguyễn Thành T phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Đ số tiền này.
4. Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi
6
hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị N |
7
8
Bản án số 521/2024/TLST-DS ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 521/2024/TLST-DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vay NH
