|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 49/2025/DS-PT
Ngày: 15-04-2025
“Về việc tranh chấp ranh giới, mốc giới
giữa các bất động sản liền kề”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Hiệu; Ông Phạm Anh Tuyết.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Quỳnh - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 03 và ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 87/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc: “Về việc tranh chấp ranh giới, mốc giới giữa các bất động sản liền kề”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST, ngày 15/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2025/QĐXXPT- DS ngày 08 tháng 01 năm 2025; các Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định tạm ngừng phiên tòa, thông báo mở lại phiên tòa, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1956 và bà Hà Thị V1, sinh năm 1956; Đều có địa chỉ: Đ, thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Cụ Hà Thị M, sinh năm 1938 (đã chết ngày 21/10/2024).
- Anh Hà Đình T, sinh năm 1978;
- Chị Hà Thị L, sinh năm 1972;
- Chị Hà Thị L1, sinh năm 1963,
- Chị Hà Thị Thúy V1, sinh năm 1991. Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn V - là nguyên đơn.
- Bản án không bị kháng nghị.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ M
Đều có địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa có mặt: Ông V, bà V1, anh T.
Vắng mặt: Chị L1, chị L, chị V1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST, ngày 15/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2023, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:
Ông Vĩnh khởi K gia đình cụ Hà Thị M đã lấn chiếm sang sang gia đình ông diện tích là 35 m². Cụ thể: Vào khoảng năm 1984 hai bên gia đình thỏa thuận về việc đổi đất cho nhau đối với cạnh tiếp giáp giữa hai gia đình cụ thể: Cạnh phía Bắc trước đây 9m nay thành 10,2m, cạnh phía Tây trước đây là hình zíc zắc, gia đình ông và gia đình cụ X (chồng cụ M) đã thỏa thuận đổi cho nhau từ điểm mốc 4,02 kéo thẳng ra đường thôn, ông và cụ X đã thực hiện được đổi xong từ điểm mốc 4,02 đến điểm mốc 1,69. Ông đã phải chặt đi cây cối trên đường ranh giới đã thỏa thuận đổi cho nhau và hai gia đình đã xây dựng 02 bể chứa nước để làm ranh giới phân chia. Do từ điểm mốc 1,69 kéo ra đường thôn vướng góc nhà ở và nhà vệ sinh của gia đình cụ X nên chưa thực hiện được. 01 năm sau cụ X mất thì hai bên gia đình vẫn tiếp tục sử dụng hiện trạng đất như vậy cho đến 2006, anh Hà Đình T (con trai cụ X, cụ M) phá nhà ngang, xây nhà chính. Hai bên thống nhất đo vẽ lại cạnh tiếp giáp mà ông và cụ X chưa thực hiện xong. Theo đó, từ giáp tường nhà bếp của gia đình ông kéo sang phần đất của gia đình cụ X là 1,85m kéo thẳng ra đường thôn nên từ điểm 4,02 kéo thẳng ra đường thôn là một đường thẳng nhưng anh T không nghe và tuyên bố cứ theo bìa đỏ và làm. Vụ việc đã được hòa giải tại UBND xã V không thành nên chuyển xuống Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang giải quyết. Nay ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tranh chấp ranh giới với gia đình cụ Hà Thị M, yêu cầu gia đình cụ M trả lại 35m² đất. Tại phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, ông xác định việc đổi đất giữa gia đình ông và gia đình cụ M có thỏa thuận về việc đổi đất cho nhau (lập thành văn bản và gửi ra UBND xã V, hiện ông không có văn bản này nộp cho Tòa án). Ông xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc buộc gia đình cụ M phải trả cho gia đình ông diện tích đất lấn chiếm là 44,3 m² theo sơ đồ xem xét hiện trạng của Tòa án, theo hình thể A1, A2, A18, A17, A16, A15, A14, A13, A12, A1.
Quá trình giải quyết vụ án anh Hà Đình T là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cụ Hà Thị M trình bày: Về nguồn gốc thửa đất của gia đình anh như sau: Theo hồ sơ địa chính 299/TTg năm 1985 được thể hiện tại bản đồ địa chính và sổ đăng ký ruộng đất là thửa đất số 330, tờ bản đồ số 07, diện tích 330 m², loại đất thổ cư (T), đăng ký chủ sử dụng: ông Hà Đình X (bố anh). Đến năm 1985 bố anh mất nên mẹ anh làm thủ tục và kê khai và được UBND tỉnh H cấp GCNQSDĐ số A 133256 mang tên cụ Hà Thị M, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: 0540, cấp ngày 05/01/1991 đối với thửa 365, tờ bản đồ số 07 và đã được UBND huyện N hợp pháp hóa trang 3 ngày 15/6/2004.
Theo hồ sơ đo đạc lập bản đồ cấp giấy CNQSDĐ năm 1991, thửa đất số 330, tờ bản đồ 07 nói trên thuộc thửa đất số 294, tờ bản đồ số 07, diện tích 330m², loại đất: thổ cư (T), người sử dụng đất là cụ Hà Thị M nhưng lại cấp cho gia đình anh tại thửa đất 365, tờ bản đồ số 07, diện tích 253 m², loại đất thổ cư (T) người sử dụng đất là ông Nguyễn Khắc Đ.
Theo hồ sơ đo đạc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2008, hộ gia đình anh đang sử dụng đất thuộc các thửa đất 224, tờ bản đồ số 50, diện tích 178m², mục đích sử dụng đất: ONT, người sử dụng đất là anh (Hà Đình T) và thửa đất số 324, tờ bản đồ số 50, diện tích 138m², mục đích sử dụng đất ONT, người sử dụng đất của mẹ anh (cụ Hà Thị M).
Khi anh được mẹ đẻ là cụ M tặng cho đất, anh đã đến UBND xã V làm thủ tục. Cán bộ địa chính xã đã đối chiếu với hồ sơ địa chính qua các thời kỳ xã V, thửa đất số 365, tờ bản đồ số 07, diện tích 253m² được đăng ký người sử dụng đất là ông Nguyễn Khắc Đ, hiện gia đình ông Đ đang sử dụng và sinh sống trên thửa đất này. Hộ gia đình anh đang sử dụng và sinh sống trên thửa đất số 294, tờ bản đồ số 07, diện tích 330m² (theo hồ sơ đo đạc năm 1991), nay thuộc các thửa đất số 224, tờ bản đồ số 50, diện tích 178m², mục đích sử dụng đất ONT và thửa đất số 324, tờ bản đồ số 50, diện tích 138m², mục đích sử dụng đất ONT (theo hồ sơ đo đạc năm 2008). Các thửa đất này chưa được cấp giấy CNQSDĐ lần nào.
Do vậy, UBND xã V đã kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy CNQSDĐ đã cấp cho mẹ anh (cụ Hà Thị M) thuộc trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phát hiện giấy CNQSDĐ đã cấp sai sót không đúng hình dạng, vị trí, không đúng quy định của pháp luật về đất đai. UBND huyện N đã ra Quyết định về việc thu hồi giấy CNQSDĐ số 4421/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 đối với giấy CNQSDĐ.
Năm 2021, anh xây dựng nhà mới, các công trình như nhà ngang, bếp do bố anh (thời điểm đó đang công tác trong quân đội tại đặc khu Q) xây dựng năm 1981 được gia đình tháo dỡ nhưng để nguyên phần móng. Theo sơ đồ hiện trạng kèm theo Biên bản thẩm định ngày 19/5/2024 thì thấy: Cạnh phía Bắc thửa đất của gia đình anh đang quản lý sử dụng hiện vẫn còn đoạn tường papanh do anh xây dựng năm 2021, từ tường nhà gia đình anh kéo dài 20cm đến sát tường nhà cấp 4 của hộ gia đình ông Phạm Văn V2 và bà Hà Thị V1 (A13); từ điểm A13 kéo thẳng đến mép ngoài bể nước gia đình ông V2, bà V1 xây dựng (A15) có cạnh dài 6,29m (đã đào móng bể nước thấy từ tường bể đến móng khoảng cách là 05 cm); từ điểm A15 kéo thẳng đến A16 có cạnh dài 1,47m và từ A16 kéo thẳng đến A17 có cạnh dài 8,43m; ở phần giáp ranh còn đoạn tường gạch pabanh do anh xây khoảng năm 2009, mục đích không cho chó, gà nhà ông V2 sang nhà anh và móng nhà ngang do khi còn sống bố anh xây dựng (hiện đã phá dỡ hết để lại móng) tiếp giáp với nhà bếp của gia đình ông V2, bà V1; từ A17 kéo thẳng A18 có cạnh dài 1,98m và từ A18 kéo dài đến A2 có cạnh dài 5,79m trên đất của gia đình anh còn móng nhà bếp tiếp giáp với nhà vệ sinh của gia đình ông V2 bà V1. Giữa móng nhà ngang, móng bếp của gia đình anh với nhà bếp, nhà vệ sinh của gia đình ông V2, bà V1 có để lại khoảng cách 0,35 cm làm giọt ranh. Điểm A2 là điểm tiếp giáp giữa tường bao của gia đình anh và gia đình ông V2, bà V1. Anh xác định móng nhà ngang, nhà bếp khi còn sống bố anh là người xây dựng, đến năm 2021 anh xây dựng nhà mới nên đã phá nhà ngang, nhà bếp chỉ để lại móng. Lý do anh để lại móng là do ông V2 là hàng xóm không đàng hoàng hay đi tranh chấp, kiện tụng. Trong quá trình giải quyết ông V2 trình bày giữa ông V2 và bố anh khi còn sống đã thỏa thuận về việc đối đất cho nhau do hiện trạng sử dụng đất của hai gia đình là hình zích zắc nên đổi cho thẳng nhưng không có căn cứ gì thể hiện việc đổi đất này. Nhân chứng sống là mẹ anh cũng không bao giờ nói chuyện với các con về việc thỏa thuận đổi đất. Mặt khác, ông V2 trình bày đã nộp biên bản thỏa thuận đổi đất tại UBND xã V nhưng ông không cung cấp được biên bản thỏa thuận về việc đổi đất giữa ông V2 và bố anh và hồ sơ lưu trữ tại UBND xã V không có biên bản này. Anh cho rằng ông Vĩnh N ra việc đổi đất với bố anh nhằm mục đích chiếm đoạt đất của gia đình anh. Do vậy, anh hoàn toàn bác bỏ và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đã thể hiện hiện trạng đất của nguyên đơn, bị đơn. Kết quả định giá tài sản thể hiện: Phần đất tranh chấp nằm trên thửa đất của bị đơn cụ thể như sau: A1, A2, A18, A17, A16, A15, A14, A13, A12, A1. Giá trị đất ở nông thôn (ONT) tại vị trí cần định giá là 5.000.000đồng/m²; Giá trị tài sản trên đất: Mái tôn thường phía trước giáp đường, diện tích 20,1 m² làm năm 2022 có giá trị còn lại là 7.620.000 đồng; Vách tôn thường giáp hộ gia đình ông V2, diện tích 12,7 m², làm năm 2022 có giá trị còn lại là 4.829.000 đồng; Nền lán tôn diện tích 20,1m², bên trên lát gạch ceramic, làm năm 2022 có giá trị còn lại là 5.036.000 đồng; Móng tường gạch chỉ dài 6,17m làm năm 2022 có giá trị còn lại là 311.000 đồng; Tường bao giáp đường, bên trên rào inox làm năm 2022 dài 3,71m có giá trị còn lại là 3.158.000đồng; Đoạn tường gạch papanh xây giáp bể nước dài 0,85m, cao 0,8m đã xuống cấp, giá trị còn lại 0 đồng.
Tại biên bản xác minh ngày 16/7/2024, UBND xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương cung cấp:
- Về nguồn gốc thửa đất số 283, tờ bản đồ số 07 đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ số K 046494, mang tên ông Nguyễn Văn V và bà Hà Thị V1, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: 0547, cấp ngày 02/01/2002;
- Đối với thửa đất 365, tờ bản đồ số 07 đã được UBND tỉnh H cấp GCNQSDĐ số A 133256 mang tên cụ Hà Thị M, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: 0540, cấp ngày 05/01/1991; đã được UBND huyện N hợp pháp hóa trang 3 ngày 15/6/2004.
Qua kiểm tra, rà soát hồ sơ, sổ sách, tài liệu còn lưu giữ, căn cứ bản đồ 299, bản đồ cấp GCNQSDĐ, sổ mục kê, danh sách các hộ xin cấp GCNQSDĐ, UBND xã V xác định thửa đất 283, tờ bản đồ số 07 có nguồn gốc được cấp phê duyệt theo Quyết định số 1101- QĐ/UB ngày 19/12/1990 của UBND tỉnh H (nay là UBND tỉnh H).
Toàn bộ quy trình, trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông Nguyễn Văn V được UBND xã V thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Đến ngày 02/01/2002, hộ ông V được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ mang tên ông Nguyễn Văn V và bà Hà Thị V1 tại thửa số 283, tờ bản đồ số 07, diện tích 493m² (300m² đất ở và 193m² đất trồng cây hàng năm)
Quá trình sử dụng đất, theo lời khai của ông V có sự đổi đất với hộ liền kề (cụ X) và nộp biên bản thỏa thuận đổi đất tại UBND xã là không có căn cứ. Các hộ gia đình tự sử dụng đất thep GCNQSDĐ được cấp, không thông báo đến chính quyền địa phương để xác nhận việc đổi đất cho nhau.
Thời điểm địa phương tiến hành đo hiện trạng sử dụng đất của các hộ (để lập bản đồ hiện trạng 2008), địa phương chỉ đến xác định hiện trạng theo chỉ dẫn mốc giới của các hộ sử dụng đất, đây không phải căn cứ pháp lý để xác định ranh giới, mốc giới giữa các hộ liền kề.
Theo hồ sơ địa chính 299/TTg năm 1985 được thể hiện tại bản đồ địa chính và sổ đăng ký ruộng đất, thửa đất cụ Hà Thị M hiện đang sử dụng là thửa đất số 330, tờ bản đồ số 07, diện tích 330 m², loại đất: thổ cư (T), đăng ký chủ sử dụng: ông Hà Đình X (là chồng cụ Hà Thị M);
Theo hồ sơ đo đạc lập bản đồ cấp GCNQSDĐ năm 1991, thửa đất số 330, tờ bản đồ 07 nói trên thuộc thửa đất số 294, tờ bản đồ số 07, diện tích 330 m², loại đất: thổ cư (T), người sử dụng đất là cụ Hà Thị M;
Theo hồ sơ đo đạc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2008, hộ cụ M đang sử dụng đất thuộc các thửa đất 224, tờ bản đồ số 50, diện tích 178 m², mục đích sử dụng đất: ONT, người sử dụng đất: ông Hà Văn T1 (con trai cụ M) và thửa đất số 324, tờ bản đồ số 50, diện tích 138 m², mục đích sử dụng đất ONT, người sử dụng đất cụ Hà Thị M;
Qua kiểm tra, rà soát, UBND xã V thấy cùng một thửa đất số 365, tờ bản đồ số 07, diện tích 253 m² đã được UBND tỉnh H cấp và UBND huyện N xác nhận cho 02 chủ sử dụng đất khác nhau là cụ Hà Thị M và ông Nguyễn Khắc Đ; GCNQSDĐ đã cấp cho hộ cụ Hà Thị M không đúng quy định của pháp luật về đất đai.
Đối chiếu với hồ sơ địa chính qua các thời kỳ xã V, thửa đất số 365, tờ bản đồ số 07, diện tích 253 m² được đăng ký người sử dụng đất là ông Nguyễn Khắc Đ, hiện gia đình ông Đ đang sử dụng và sinh sống trên thửa đất này. Hộ cụ M đang sử dụng và sinh sống trên thửa đất số 294, tờ bản đồ số 07, diện tích 330 m² (theo hồ sơ đo đạc năm 1991), nay thuộc các thửa đất số 224, tờ bản đồ số 50, diện tích 178 m², mục đích sử dụng đất ONT và thửa đất số 324, tờ bản đồ số 50, diện tích 138 m², mục đích sử dụng đất ONT (theo hồ sơ đo đạc năm 2008). Các thửa đất này chưa được cấp GCNQSDĐ lần nào.
UBND xã V đã kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho cụ Hà Thị M thuộc trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phát hiện GCNQSDĐ đã cấp sai sót không đúng hình dạng, vị trí, không đúng quy định của pháp luật về đất đai. UBND huyện N đã ra Quyết định về việc thu hồi GCNQSDĐ số 4421/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 đối với GCNQSDĐ của cụ M và giao UBND xã hướng dẫn cụ M lập hồ sơ, thực hiện trình tự, thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ mà hộ cụ M đang sử dụng theo quy định của pháp luật.
Bản án Dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST, ngày 15/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã Quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V, bà Hà Thị V1 về việc tranh chấp đòi lại đất lấn chiếm với cụ Hà Thị M.
Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, phần án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông V xem xét lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng cáo, trình bày nội dung thống nhất các nội dung đã trình bày tại cấp sơ thẩm. Xác định các điểm mốc A13, A14, A15 trên sơ đồ thẩm định của Tòa án không có tranh chấp. Đề nghị Tòa án chấp nhận điểm A15 và điểm A1 là ranh giới đất giữa hai gia đình ông V và gia đình cụ M. Nối điểm A15 với điểm A1. Yêu cầu gia đình cụ M trả lại gia đình ông diện tích đất khoảng 30m² được giới hạn bởi các điểm A15A16A17A18A2A1 đến A15.
- Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và trình bày các nội dung như đã trình bày tại cấp sơ thẩm. Đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Bị đơn đã phá đoạn móng tường xây vào năm 2022 bằng gạch chỉ và phần mái tôn phía trên nằm giáp với điểm mốc A17 và nằm giữa điểm mốc A17 và A16. Còn phần móng các công trình cũ (do cụ X xây dựng từ khoảng năm 1980) vẫn còn nguyên là đây là mốc giới giữa hai gia đình từ năm 1981 đến nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi đại diện Viện kiểm sát phân tích các tình tiết của vụ án, các căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ý kiến của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông V, giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST, ngày 15/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Ông V được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng, kháng cáo của nguyên đơn - ông Nguyễn Văn V trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Xét kháng cáo của bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn V và bà Hà Thị V1 được quyền sử dụng thửa đất có số thửa 283, tờ bản đồ số 07, diện tích 493 m², địa chỉ: thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. Đất đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là giấy CNQSDĐ) ngày 02/01/2002; Cạnh phía Đông và phía Nam của thửa đất tiếp giáp với thửa đất của cụ Hà Thị M.
- Gia đình cụ Hà Thị M có quyền sử dụng thửa đất số 330, tờ bản đồ số 07, diện tích 330m² theo Chỉ thị 299. Năm 1991, địa phương đã cấp giấy CNQSDĐ cho cụ Hà Thị M cùng các gia đình khác trong xã nhưng do cấp nhầm số thửa, diện tích đất của gia đình anh Đ nên UBND huyện N đã ra Quyết định về việc thu hồi giấy CNQSDĐ số 4421/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 đối với giấy CNQSDĐ đã cấp cho cụ M. Hiện nay, cụ gia đình cụ M chưa được cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa đất trên.
- Nguyên đơn xác định điểm mốc ở phía Bắc từ điểm cách móng nhà của gia đình cụ M đến điểm mép ngoài bể nước có cạnh A13A14=6,29m; A14A15=3,29m không có tranh chấp. Các điểm mốc có tranh chấp gồm: Từ điểm A15, A16, A17, A18, A2, A1. Lấy điểm mốc A15 nối với điểm mốc A1 và từ điểm A1 kéo dài về phía Tây có cạnh A1A2= 3,71m. Diện tích đất khoảng 30m² được giới hạn bởi các điểm A15A16A17A18A2A1 đến A15 là phần đất của gia đình ông nên buộc gia đình cụ M phải trả lại.
- Căn cứ bản đồ 299 và bản đồ được sử dụng để cấp giấy CNQSDĐ cho gia đình ông V, cụ M thì ranh giới giữa hai thửa đất là hai đoạn thẳng gấp khúc. Thực tế, từ trước năm 1985 đến nay, hai gia đình vẫn sử dụng và xây dựng các công trình trên đất theo ranh giới là 03 đoạn gấp khúc. Theo nguyên đơn, năm 1984, giữa ông V và cụ X (chồng cụ M) đã thỏa thuận đổi đất cho nhau để ranh giới hai gia đình là đường thẳng. Hai bên có lập thành văn bản gửi UBND xã V. Năm 1985, gia đình ông V và cụ M đã xây hai cái bể giáp nhau làm ranh giới giữa hai nhà. Đất của gia đình ông V đã được UBND huyện N cấp giấy CNQSDĐ đúng như hình thể mà hai bên đã thống nhất đổi đất cho nhau. Tuy nhiên, do vướng công trình của gia đình cụ X và sau khi thỏa thuận đổi đất được 01 năm thì cụ X chết nên hai bên chưa thực hiện được việc giao đất cho nhau như đã thỏa thuận. Tuy nhiên, ông V không cung cấp được văn bản thỏa thuận về việc đổi đất với nhà cụ M, cũng không có căn cứ nào khác chứng minh. UBND xã V, huyện N cung cấp không có căn cứ xác định sự việc như ông V trình bày.
- Các công trình như nhà bếp, nhà vệ sinh, bể nước của gia đình ông V xây dựng từ năm 1993 vẫn nằm trên phần đất của ông V, bà V1. Trên phần đất tranh chấp hiện có điểm A13 (phần tường bao xây gạch ba banh). Đoạn tiếp theo nối điểm A13 đến mép ngoài bể nước của nhà ông V (A14) có cạnh A13A14= 6,29m là đất trống. Đoạn A14A15=3,59m là mép bể nước của nhà ông V. Đoạn A15A16=1,47m và đoạn A16A17=8,43m là móng tường xây của chuồng lợn cũ và đoạn A17A18=1,98m và A18A2=5,79m là phần móng nhà ngang của gia đình cụ M (các đoạn móng này được cụ X xây từ khoảng năm 1980-1981). Tại vị trí giáp ranh giữa bếp của gia đình ông V với móng nhà ngang của gia đình cụ M, giữa nhà vệ sinh của gia đình ông V, với móng bếp của gia đình cụ M chỗ hẹp nhất 0,35m, chỗ rộng nhất 0,5m. Điểm A2 là điểm tiếp giáp giữa tường bao của gia đình ông V, bà V1 với tường bao của gia đình cụ M. Trên phần đất tranh chấp còn có một đoạn tường xây gạch chỉ đỏ và một phần mái tôn đã được anh T1 phá bỏ.
- Hiện trạng, diện tích đất của gia đình ông V, bà V1 là 641m² tăng lên so với diện tích đất được cấp theo giấy CNQSDĐ (493m²) và diện tích đất được đo vẽ theo bản đồ địa chính năm 2008 (606m²) là do sai số do đo đạc, tính toán và gia đình ông V còn lấn một phần đất ao do UBND xã V quản lý. Hiện trạng diện tích đất nhà cụ M là 313,7m² (cộng cả phần diện tích đất đang tranh chấp) giảm so với diện tích đất được thể hiện tại bản đồ năm 1991 và 2008 một phần do hiến đất làm đường và một phần do sai số do đo đạc và tính toán.
- Khi anh T1 phá các công trình do cụ M và cụ X xây dựng từ trước năm 1985 để xây dựng nhà mới trên đất như hiện nay, anh T1 chỉ phá nhà và công trình trên đất, vẫn giữ nguyên móng cũ được thể hiện tại sơ đồ kèm Biên bản thẩm định của Tòa án.
- Năm 2008, các cơ quan có thẩm quyền phối hợp với địa phương đo vẽ hiện trạng đất của các gia đình trong xã và thiết lập Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất (theo hiện trạng sử dụng). Gia đình ông V đã ký tại mục “Các chủ sử dụng đất tiếp giáp” đối với Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất nhà cụ M. Điều đó chứng tỏ ông V đã thừa nhận ranh giới, mốc giới đất giữa hai gia đình như hình thể, kích thước, diện tích đất được thể hiện tại mục “Sơ họa mốc giới thửa đất” trong Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất của hai gia đình. Hình thể, diện tích, kích thước đất của hai gia đình ông V và cụ M tại các Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất lập năm 2008 phù hợp hiện trạng đất do Tòa án thẩm định.
- Mặc dù bản đồ địa chính 299 năm 1985 và năm 1991, giấy CNQSDĐ đã cấp cho gia đình ông V thể hiện ranh giới về phía đông của thửa đất của gia đình ông V giáp thửa đất của gia đình cụ M là hai đoạn thẳng gấp khúc. Tuy nhiên, thực tế tại các điểm giáp ranh của hai thửa đất vẫn tồn tại các công trình của hai gia đình xây dựng trước khi được cấp giấy CNQSDĐ năm 1991 và các gia đình vẫn đang sử dụng từ đó đến nay. Các điểm mốc này cần được xác định là mốc lịch sử, do các gia đình tự xác định, không có tranh chấp kể từ trước năm 1985 đến năm 2021. Mặt khác, tại thời điểm đo vẽ lập bản đồ năm 1991 và cấp giấy CNQSDĐ đồng loạt cho các gia đình trong xã V trong đó có gia đình ông V được thực hiện thủ công. Giấy CNQSDĐ của gia đình ông V không phải là căn cứ duy nhất để xác định ranh giới, mốc giới thửa đất giữa hai gia đình.
- Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ đầy đủ và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không xuất trình được thêm chứng cứ mới có giá trị chứng minh nội dung kháng cáo của mình là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
- Về án phí: Kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, ông V là người cao tuổi nên được miễn án phí.
- Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm, cấp phúc thẩm không xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng chị V1 vẫn vắng mặt. Chị L1, chị L có đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST, ngày 15/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V và bà Hà Thị V1 về việc đòi lại đất lấn chiếm với cụ Hà Thị M.
- Xác định ranh giới giữa thửa đất có số thửa 283, tờ bản đồ số 07 tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Văn V và bà Hà Thị V1 với thửa đất có số thửa 294, tờ bản đồ số 07 tên chủ sử dụng là cụ Hà Thị M; địa chỉ hai thửa đất: Đ, thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương là các điểm A13, A14, A15, A16, A17, A18, A2 (có sơ đồ kèm theo).
- Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn V.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thúy Hằng |
Bản án số 49/2025/DS-PT ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp ranh giới, mốc giới giữa các bất động sản liền kề
- Số bản án: 49/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới, mốc giới giữa các bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V - Hà Thị M
