|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày: 08/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Hữu Lượng
- 2. Ông Ma Quốc Thể
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long và bà Hoàng Thị Ngọc M - Kiểm sát viên.
Ngày 08/4/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLST-HS, ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Phạm Việt H, sinh ngày 20/9/1970 tại TP P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ E, phường X, TP P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Kinh doanh; Chức vụ: Giám đốc công ty TNHH MTV V và V; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn B và bà: Cù Lan D (đều đã chết); vợ: Đỗ Thị Thu H1, sinh năm 1969; con: Có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2011; anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ sáu;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
2. Trịnh Thị T, sinh ngày 21/01/1985 tại TP P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ E, phường X, TP P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không;
1
quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Văn T1 (đã chết) và bà: Đào Thị L, sinh năm 1956; Chồng: Nguyễn Đăng M1, sinh năm 1985; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ ba;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/02/2020, Công ty cổ phần T5 (Công ty T5), địa chỉ số F, tổ E, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc do Phạm Việt H, cư trú tại số nhà F, tổ E, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc làm Giám đốc nhận chuyển nhượng lại mỏ đá vôi xây dựng tại mỏ N, thôn V, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang của Công ty trách nhiệm hữu hạn V, địa chỉ số nhà B, đường N, tổ G, phường T, thành phố T do ông Phạm Nhật T2 làm Giám đốc. Sau khi nhận chuyển nhượng Phạm Việt H đã đăng ký thay đổi chủ sở hữu và đổi tên là Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên V (Công ty V), mã số doanh nghiệp E và được Phòng Đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh T cấp Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi doanh nghiệp Công ty TNHH MTV lần thứ 1 ngày 02/03/2020, người đại diện theo pháp luật là Phạm Việt H. Giám đốc công ty là người trực tiếp chỉ đạo, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty (Công ty T5 là công ty mẹ, công ty V là công ty con). H thuê Trịnh Thị T, cư trú tại tổ E, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc làm kế toán quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty V và Công ty T5 từ ngày 01/01/2019 cho đến nay. Công việc chính của T là làm sổ sách theo dõi kế toán của Công ty, Quyết toán thuế, báo cáo tài chính lập sổ sách xuất nhập hàng hóa (là đá) sau khai thác và lập hóa đơn xuất bán hàng hóa là đá hỗn hợp sau khai thác của công ty V bán cho công ty T5. Về hoạt động khai thác đá vôi xây dựng công ty V thực hiện theo Giấy phép khai thác khoáng sản số 08/GP-UBND, ngày 16/01/2019 do Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp phép cho Công ty được khai thác đá vôi bằng phương pháp lộ thiên có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tại Mỏ đá vôi N, thôn V, xã T, huyện S nay là thôn V, xã T, huyện S; diện tích 5ha, thời hạn khai thác 27 năm kể từ ngày ký giấy phép.
Để khai thác đá vôi xây dựng, H thuê nhân công lao động trả lương theo tháng, đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ. Toàn bộ khối lượng đá nguyên khai (đá hỗn hợp) sau bắn nổ được Công ty V bán cho Công ty T5.
Quá trình khai thác, kinh doanh đá vôi xây dựng, Phạm Việt H là Giám đốc Công ty V chỉ đạo Trịnh Thị T là kế toán của công ty K giảm số lượng khoáng sản so với khối lượng thực tế đã khai thác, không xuất hóa đơn bán hàng đối với phần khoáng sản tăng thêm bán ra, không kê khai nộp thuế và phí theo quy định để nhằm mục đích trốn thuế và phí. Trịnh Thị T là người trực tiếp thu tiền mặt khi bán đá xây dựng không xuất hóa đơn và đưa cho Phạm Việt H. Số tiền có được từ việc trốn nộp thuế H không chia cho T.
2
Việc khai thác đá xây dựng của công ty V bán cho Công ty T5, trốn nộp thuế cụ thể như sau:
- - Năm 2022: Công ty V khai thác được tổng khối với lượng đá vôi xây dựng nguyên khai là: 64.101 m³, bán toàn bộ cho Công ty T5. Trong đó xuất hóa đơn bán ra, kê khai nộp thuế và phí với khối lượng là 63.198 m³, giá bán: 63.636 đồng/01 m³ (chưa có thuế VAT), Công ty V đã kê khai và nộp thuế và phí đầy đủ đối với khối lượng đá 63.198 m³. Không xuất hóa đơn bán ra, không kê khai nộp thuế và phí đối với khối lượng 903 m³ (thời điểm khai thác tăng không kê khai vào tháng 11/2022). Số tiền bán đá thu được không xuất hóa đơn cho Công ty T5 là: 57.463.308 đồng. Số tiền thuế giá trị gia tăng phải nộp thêm tương ứng là: 5.746.331 đồng. Số tiền T3 tài nguyên phải nộp là 6.321.000 đồng; Số tiền phí bảo vệ môi trường phải nộp là: 4.966.500 đồng. Số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là: 9.235.162 đồng. Tổng số tiền thuế và phí Công ty V trốn nộp năm 2022 là 26.268.992 đồng.
- - Năm 2023: Công ty V khai thác được tổng khối lượng đá vôi xây dựng nguyên khai là: 54.942 m³, bán toàn bộ cho công ty T5. Trong đó xuất hóa đơn bán ra, kê khai nộp thuế và phí với khối lượng là 50.107 m³, giá bán: 63.636 đồng/01 m³ (chưa có thuế VAT), Công ty V đã kê khai và nộp thuế và phí đầy đủ đối với khối lượng đá 50.107 m³. Không xuất hóa đơn bán ra, không kê khai nộp thuế và phí là: 4.835 m³ (thời điểm khai thác tăng không kê khai vào tháng 01,02,03,04/2023). Số tiền bán đá thu được không xuất hóa đơn cho Công ty T5 là 307.680.080 đồng. Số tiền thuế giá trị gia tăng phải nộp thêm tương ứng là: 30.768.006 đồng. Số tiền T3 tài nguyên phải nộp là 33.845.000 đồng. Số tiền phí bảo vệ môi trường phải nộp là: 26.592.500 đồng. Số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là: 49.448.512 đồng. Tổng số tiền thuế và phí Công ty V trốn nộp năm 2023 là 140.654.018 đồng.
Tổng số tiền thuế và phí Công ty V trốn nộp trong năm 2022 và 2023 là 166.923.010 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm hai mươi ba nghìn không trăm mười đồng).
Số lượng đá xây dựng năm 2022, 2023 Công ty T5 nhập mua không có Hóa đơn của Công ty V, sau đó Công ty T5 xuất bán không có hoá đơn cụ thể như sau:
-
- Năm 2022 bán 903 m³ cho những khách hàng sau:
- + Nguyễn Văn B1, cư trú thôn T, xã T, huyện S, khối lượng 96,99m³, giá bán 106.750 đồng, số tiền là 10.353.682 đồng.
- + Nguyễn Văn Q, cư trú thôn V, xã T, huyện S, khối lượng 193,7 m³, giá bán 106.750 đồng, số tiền là 20.677.475 đồng.
- + Nghiêm Thanh T4, cư trú thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, khối lượng 267,94 m³, giá bán 106.750 đồng, số tiền là 28.602.595 đồng.
- + Nghiêm Xuân B2, cư trú tại thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, khối lượng 344,37 m³, giá bán 106.750 đồng, số tiền là 36.761.498 đồng.
Tổng số tiền bán đá xây dựng năm 2022 thu được không xuất hóa đơn là 96.395.250 đồng.
- - Năm 2023 bán 4.835 m³ cho những khách hàng trên:
3
- + Nguyễn Văn B1, khối lượng 56,76 m³, giá bán 121.429 đồng, số tiền là 6.892.310 đồng.
- + Nguyễn Văn Q, khối lượng 2.135,02m³, giá bán 121.429 đồng, số tiền là 259.253.344 đồng.
- + Nghiêm Thanh T4, khối lượng 321,73 m³, giá bán 121.429 đồng, số tiền là 39.067.352 đồng.
- + Nghiêm Xuân B2, khối lượng 307,4 m³, giá bán 121.429 đồng, số tiền là 37.327.275 đồng.
- + Vũ Đình B3, khối lượng 2.014,09 m³, giá bán là 121.429 đồng, số tiền là 244.568.935 đồng.
Tổng số tiền bán đá xây dựng năm 2023 thu được không xuất hóa đơn là 587.109.215 đồng.
Kết luận giám định số 05 /KLGĐ-CTTQU ngày 14/02/2025 của Cục thuế tỉnh T xác định:
- - Hành vi bán hàng không xuất hóa đơn GTGT, không kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế GTGT, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với khối lượng đá xây dựng là 5.738 m³ của Công ty V khai thác năm 2022, 2023 và bán cho Công ty T5 là hành vi trốn thuế.
-
- Số tiền trốn thuế là 166.923.010 đồng, trong đó năm 2022 là: 26.268.992 đồng, năm 2023 là:140.654.018 đồng. Cụ thể như sau:
- + Số tiền thuế GTGT trốn là 36.514.337 đồng. Cụ thể: Năm 2022 trốn nộp số tiền 5.746.331 đồng, năm 2023 trốn nộp số tiền 30.768.006 đồng.
- + Số tiền thuế TNDN trốn nộp: 58.683.674 đồng. Cụ thể: Năm 2022 trốn nộp số tiền 9.235.162 đồng, năm 2023 trốn nộp số tiền 49.448.512 đồng.
- + Số tiền trốn nộp thuế tài nguyên là: 40.166.000 đồng. Cụ thể: Năm 2022 trốn nộp số tiền 6.321.000 đồng, năm 2023 trốn nộp số tiền 33.845.000 đồng.
- + Số tiền trốn nộp phí bảo vệ môi trường là: 31.559.000 đồng. Cụ thể: Năm 2022 trốn nộp số tiền 4.966.500 đồng, năm 2023 trốn nộp số tiền 26.592.500 đồng.
- - Hành vi của Công ty T5 không kê khai khối lượng đá xây dựng là 5.738 m³ mua vào của Công ty V năm 2022, 2023 và không xuất hóa đơn GTGT đối với đá xây dựng sau chế biến bán ra, không kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với khối lượng nêu trên do không có đủ căn cứ, tài liệu nên không xác định được số tiền thuế đã trốn đối với thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp nên không kết luận được số tiền thuế đã trốn.
Về vật chứng: Quá trình điều tra tạm giữ 01 (một) cây máy tính màu đen nhãn hiệu XIGMATEK, máy đã qua sử dụng của Công ty TNHH MTV V; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro, màu đen của Trịnh Thị T.
Về dân sự: Quá trình điều tra, Phạm Việt H đã giao nộp toàn bộ số tiền đã trốn thuế 166.923.010 đồng.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSSD, ngày 27/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Phạm Việt H và Trịnh Thị T về tội “Trốn thuế” theo điểm b, c khoản 1 Điều 200 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát
4
viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:
- - Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Việt H và Trịnh Thị T phạm tội “Trốn thuế”.
-
- Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Phạm Việt H từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.
- Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 200; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Trịnh Thị T từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho Công ty TNHH MTV V (một) cây máy tính màu đen nhãn hiệu XIGMATEK, máy đã qua sử dụng; bị cáo Trịnh Thị T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro, màu đen nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền do bị cáo H nộp là 166.923.010 đồng.
- - Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản khám xét; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong các năm 2022 và năm 2023, Phạm Việt H là Giám đốc Công ty TNHH MTV V, địa chỉ thôn V, xã T, huyện S, đồng thời là Giám đốc Công ty cổ phần T5, địa chỉ số F, tổ E, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ đạo Trịnh Thị T là kế toán của công ty V và V kê khai giảm số lượng khoáng sản so với khối lượng thực tế đã khai thác, không xuất hóa đơn bán hàng đối với phần khoáng sản tăng thêm bán ra, không kê khai nộp thuế và phí theo quy định, đã trốn thuế và phí, cụ thể:
5
- - Năm 2022: Không xuất hóa đơn bán ra, không kê khai nộp thuế và phí với khối lượng 903 m³ đá. Số tiền trốn thuế năm 2022 là 26.268.992 đồng.
- - Năm 2023: Không xuất hóa đơn bán ra, không kê khai nộp thuế và phí với khối lượng 4.835 m³ đá. Số tiến trốn thuế năm 2023 là 140.654.018 đồng.
Tổng số tiền trốn thuế năm 2022 và 2023 là 166.923.010 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm hai mươi ba nghìn không trăm mười đồng).
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trốn thuế.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Phạm Việt H và Trịnh Thị T về tội Trốn thuế, là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại quy định tại điểm b, điểm c, khoản 1, Điều 200 Bộ luật Hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể về chế độ quản lý của nhà nước về thuế, xâm phạm tới lợi ích Nhà nước trong việc thu nộp thuế, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước. Do vậy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, có như vậy mới có tác dụng giáo dục các bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
Trong vụ án này các bị cáo phạm tội không có tổ chức, không bàn bạc thống nhất và phân chia lợi nhuận, mà là đồng phạm giản đơn. Xét tính chất, mức độ, vai trò và nhân thân của các bị cáo được đánh giá như sau:
Bị cáo Phạm Việt H là Giám đốc đã chỉ đạo Trịnh Thị T là kế toán của Công ty nhiều lần cung cấp hàng hóa là đá hỗn hợp do công ty V khai thác với khối lượng tăng thêm là 5.738m³ cho các công ty và các cá nhân không xuất hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) và không kê khai nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế GTGT theo quy định với số tiền trốn thuế là 166.923.010 đồng. Tuy bị cáo T không được hưởng lợi, nhưng T là người có nghiệp vụ kế toán khi được H chỉ đạo đã không ngăn cản mà tiếp tay cho H thực hiện hành vi trốn thuế. Nên cần xử phạt bị cáo H cao hơn bị cáo T.
[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với các bị cáo:
Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo. Riêng bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là đã khắc phục hậu quả nộp lại toàn bộ số tiền đã trốn thuế, bị cáo có bố đẻ là ông Phạm Văn B là người có công với cách mạng được Chủ tịch Hội đồng nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, được UBND phường X, TP P có thư cảm
6
ơn do có công đóng góp, hỗ trợ tài sản, vật chất khi xảy ra dịch bệnh covid 19, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51, bị cáo H còn có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mà áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền là phù hợp quy định pháp luật hiện nay như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Do các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về vật chứng:
Đối với số tiền 166.923.010 đồng mà bị cáo Phạm Việt H đã nộp hiện đang tạm gửi tại tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, xác định đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc trốn thuế nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
Quá trình điều tra tạm giữ 01 (một) cây máy tính màu đen nhãn hiệu XIGMATEK, máy đã qua sử dụng của Công ty TNHH MTV V. Đây là tài sản của Công ty có lưu trữ nhiều tài liệu của Công ty nên trả lại cho Công ty (do bị cáo H nhận thay); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro, màu đen của Trịnh Thị T là phương tiện liên lạc bị cáo dùng hàng ngày nên trả lại cho bị cáo, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
[5] Các vấn đề khác:
Hành vi vi phạm về thuế của công ty T5 trong hoạt động kinh doanh thương mại liên quan đến việc nhập mua đá hỗn hợp của công ty V sau khi chế biến bán ra không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, không kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, không kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo kết luận giám định của Cục thuế tỉnh T không đủ căn cứ để xác định được số tiền trốn thuế của Công ty T5, nên Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi Chi cục thuế khu vực P, tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục kiểm tra làm rõ và xử lý theo quy định.
Ngoài hành vi trốn thuế, phí nêu trên, trong năm 2021, 2022 Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên V đã bị Chi cục thuế huyện S, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về thuế tại Quyết định số 196 ngày 29/12/2023.
Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại
7
phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Việt H và Trịnh Thị T phạm tội: “Trốn thuế".
1. Về hình phạt đối với các bị cáo:
- - Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự. Phạt tiền bị cáo Phạm Việt H 120.000.000₫ (Một trăm hai mươi triệu đồng).
- - Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 200; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự. Phạt tiền bị cáo Trịnh Thị T 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 166.923.010 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm hai mươi ba nghìn không trăm mười đồng).
- (Số tiền trên hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S (nay là Phòng G - Kho bạc Nhà nước khu vực VII) theo ủy nhiệm chi ngày 28/02/2025).
- - Trả cho Công ty TNHH MTV V (do bị cáo H nhận) 01 (một) cây máy tính màu đen nhãn hiệu XIGMATEK, máy đã qua sử dụng, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
- - Trả cho bị cáo Trịnh Thị T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro, màu đen, bên trong máy không có sim, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
- (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
8
Các bị cáo Phạm Việt H, Trịnh Thị T mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Trần Hữu Lượng - Ma Quốc Thể |
Hoàng Thị Minh Khánh |
9
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
10
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự về tội trốn thuế
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trốn thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: rong các năm 2022 và năm 2023, Phạm Việt H là Giám đốc Công ty TNHH MTV V, địa chỉ thôn V, xã T, huyện S, đồng thời là Giám đốc Công ty cổ phần T5, địa chỉ số F, tổ E, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ đạo Trịnh Thị T là kế toán của công ty V và V kê khai giảm số lượng khoáng sản so với khối lượng thực tế đã khai thác, không xuất hóa đơn bán hàng đối với phần khoáng sản tăng thêm bán ra, không kê khai nộp thuế và phí theo quy định, đã trốn thuế và phí, cụ thể: - Năm 2022: Không xuất hóa đơn bán ra, không kê khai nộp thuế và phí với khối lượng 903 m3 đá. Số tiền trốn thuế năm 2022 là 26.268.992 đồng. - Năm 2023: Không xuất hóa đơn bán ra, không kê khai nộp thuế và phí với khối lượng 4.835 m3 đá. Số tiến trốn thuế năm 2023 là 140.654.018 đồng. Tổng số tiền trốn thuế năm 2022 và 2023 là 166.923.010 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm hai mươi ba nghìn không trăm mười đồng).
