Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08-4-2025

V/v “Ly hôn, nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Đức Đang

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Vân.

ông Phan Văn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: bà Trần Nguyễn Quỳnh Như – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Lan H năm 1997; nơi cư trú: khu A, xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọcó yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Bùi Đình T năm 1989; nơi cư trú: tổ E, ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Lan H1 trình bày:

Chị và anh Bùi Đình T1 tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 28/9/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng cha mẹ ruột anh T2 ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninhcuộc sống hôn nhân thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường bất đồng ý kiến trong cuộc sống. Chị đưa con gái về nhà cha mẹ sinh ruột tại tỉnh Phú Thọ sống từ năm 2024 và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T3

Về con chung: vợ chồng anh chị có 01 con chung, cháu Bùi Nguyễn Mỹ D ngày 19/6/2020, hiện đang sinh sống cùng chị H; chị yêu cầu được quyền nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng vì chị có khả năng kinh tế, đảm bảo cho cháu có môi trường sống và học tập tốt.

Về tài sản chung, nợ chung: chị H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn – anh Bùi Đình T4 bày: anh T5 Nvới lời trình bày của chị H2 mối quan hệ hôn nhân, về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên đồng ý ly hôn; về con chung, anh đồng ý giao con cho chị H3 nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị H4 yêu cầu anh cấp dưỡng thi anh đồng ý; về tài sản chung và nợ chung, cả hai vợ chồng không có nên không yêu cầu toà án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L H đối với anh Bùi Đình T1; về con chung: giao con chung của chị H5 anh T6 cháu Bùi Nguyễn Mỹ D ngày 19/6/2020 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; về tài sản chung, nợ chung: chị H trình bày không có, nên không xem xét giải quyết; về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: chị Nguyễn Thị L Hvà anh Bùi Đình T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh T3
  2. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị L H và anh Bùi Đình T1 tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 28/9/2020, hôn nhân giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, vợ chồng sống ly thân đã lâu.

Xét thấy: vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh T3

  1. Về con chung: chị H, anh T có 01 con chung là cháu Bùi Nguyễn Mỹ D ngày 19/6/2020, hiện đang ở cùng chị H, chị H có đủ điều kiện về kinh tế, có thời gian chăm sóc, đảm bảo cho cháu có điều kiện phát triển bình thường về vật chất và tinh thần nên giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giao dục. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nên ghi nhận.
  2. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Lan H1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  4. Về án phí: chị Nguyễn Thị L H phải chịu theo quy định của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Lan H1, cho chị Nguyễn Thị L H và anh Bùi Đình T1 ly hôn.
  2. Về con chung: giao con chung của chị H5 anh T6 cháu Bùi Nguyễn Mỹ D ngày 19/6/2020 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nên ghi nhận. Sau khi ly hôn, anh Bùi Đình T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Lan H1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: chị Nguyễn Thị L H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0006304 ngày 18/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, ghi nhận chị H đã nộp xong.
  5. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - P.KTNV;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THA.DS huyện Châu Thành;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Đang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Lan Hương và anh Bùi Đình Thắng tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Dũng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 28/9/2020, hôn nhân giữa chị Hương và anh Thắng là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, vợ chồng sống ly thân đã lâu.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger