|
TAND HUYỆN PHONG THỎ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HS-ST
Ngày 01-4-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Vư và ông Tẩn Cao Sơn.
Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HS ngày 18/3/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vàng Văn X; Giới tính: Nam; sinh ngày 01/01/1973; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản H, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 04/12; Con ông Vàng Văn D, đã chết và con bà Tao Thị T, sinh năm 1942; Gia đình có 10 chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ: Tòng Thị S, sinh năm 1981; Con: Có 03 con, con lớn nhất đã chết, con thứ hai sinh năm 2009, con thứ ba sinh năm 2012. Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 28/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện P (Nay là phân trại thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L). Có mặt.
2. Họ và tên: Lò Văn P; Giới tính: Nam; sinh ngày 06/11/1999; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản H, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Lò Văn M, sinh năm 1969 và con bà Vàng Thị T1, sinh năm 1972; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 28/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện P (Nay là phân trại thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L). Có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Thị L – Luật sư ký hợp đồng thực hiện việc trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 18/12/2024, Vàng Văn X đi bộ từ nhà đến bản N, xã B, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Tại bản Nà Cúng, X mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua được H, X mang về nhà cất giấu dưới đệm ở đầu giường ngủ, không cho ai biết. Tối ngày 18/12/2024 và sáng ngày 19/12/2024, X lấy gói Heroine ra sử dụng hai lần, số H còn lại X cất giấu ở vị trí cũ. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/12/2024, Lò Văn P đi bộ đến nhà Vàng Văn X. Khi gặp X, P hỏi mua H và đưa cho X 03 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. X nhận tiền rồi lấy gói Heroine cất giấu dưới đệm ở đầu giường ngủ chia thành 02 gói bán cho P. Mua được H, P cất giấu trong túi áo khoác đang mặc rồi đi về nhà. Hồi 11 giờ ngày 19/12/2024, khi P đang đi trên đường thuộc bản Hợp 1, xã B, huyện P thì bị Công an xã B phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thu giữ của P 02 gói Heroine. Căn cứ lời khai của P, Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp nơi ở của Vàng Văn X, quá trình khám xét thu giữ số tiền 150.000 đồng do X bán Heroine cho P mà có và 01 ví da màu đen.
Tại bản kết luận giám định số 50/KL-KTHS ngày 22/12/2024 của Phòng K, Công an tỉnh L đã kết luận: 02 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine; Tại bản kết luận giám định số 21/KL-GĐVV ngày 19/12/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn P có khối lượng là 0,177 gam. Tại bản kết luận giám định số 88 ngày 30/12/2024 của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Số tiền 150.000 đồng gồm 03 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Bản cáo trạng số 17/CT-VKSPT ngày 18/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Vàng Văn X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Lò Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về nội dung bản kết luận điều tra và nội dung bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lò Văn P, áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vàng Văn X đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo Vàng Văn X từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và căn cứ các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 0,106 gam Heroine còn lại sau giám định, 02 mảnh nilon màu trắng, 01 phong bì niêm phong đã mở, 01 chiếc kéo kim loại và 01 chiếc ví da màu đen, tịch thu, sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 150.000 đồng thu giữ của bị cáo X. Về án phí đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lò Văn P dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, áp dụng điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Vàng Văn X mức thấp nhất của khung hình phạt. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, xử lý vật chứng theo quy định và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Tranh luận với quan điểm của người bào chữa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ và đều xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Tại lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bào chữa đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/12/2024 tại nhà ở của Vàng Văn X thuộc bản H, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, X đã có hành vi bán trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,177 gam cho Lò Văn P để lấy số tiền 150.000 đồng. Đến hồi 11 giờ cùng ngày khi Lò Văn P đang đi về trên đường thuộc bản Hợp 1, xã B, huyện P thì bị Công an xã B phát hiện, bắt quả tang cùng với 02 gói Heroine mua của X. Ngay sau đó Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của X và thu giữ số tiền 150.000 đồng do X bán Heroine cho P mà có. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh. Hành vi của bị cáo Lò Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo Vàng Văn X đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa tội phạm trên địa bàn do vậy phần đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo không được chấp nhận, chỉ chấp nhận một phần đề nghị của người bào chữa đối với hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí hình sư sơ thẩm.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, các bị cáo không có công việc ổn định, có mối quan hệ thường xuyên với các đối tượng nghiện chất ma túy trên địa bàn. Các bị cáo là đối tượng bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy của Ủy ban nhân dân xã B, huyện P.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Lò Văn P trong quá trình điều tra đã tích cực hợp tác với cơ quan chức năng để nhanh chóng giải quyết được vụ án do vậy bị cáo P được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng nghề nghiệp của các bị cáo là làm ruộng, mức thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,071 gam Heroine Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập xử lý.
Vật chứng còn lại gồm:
- Đối với 0,106 gam Heroine còn lại sau giám định; 02 mảnh nilon màu trắng, 01 phong bì niêm phong đã mở, 01 chiếc kéo kim loại, 01 ví da màu đen là các vật Nhà nước cấm lưu hành, công cụ phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với số tiền 150.000 đồng thu giữ của bị cáo X, đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo X khai mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch, do đó không có căn cứ để xử lý.
[7] Về án phí: Các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lò Văn P;
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vàng Văn X;
Căn cứ các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Các Điều 135, 136; 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Tuyên bố bị cáo Vàng Văn X phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Lò Văn P 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2024.
- Xử phạt bị cáo Vàng Văn X 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 0,106 gam Heroine còn lại sau giám định; 02 mảnh nilon màu trắng, 01 phong bì niêm phong đã mở, 01 kéo kim loại và 01 ví da màu đen. Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 150.000 đồng (Bao gồm 03 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có số sêri lần lượt là FA23474240; HA17021344; KT20654958).
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 35 phút ngày 20/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
4. Về án phí: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Đoàn |
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tội phạm về ma túy)
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội phạm về ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn P và Vàng Văn X
