Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 49/2025/HS-ST

Ngày 26-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Bùi Đình Hùng

Bà Nguyễn Thị Lan Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị T- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tiến N, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2001, tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến T1 (đã chết) và bà Trần Thị T2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang ngày 24-9-2024; tạm giữ ngày 25-9-2024; tạm giam ngày 01-10-2024; có mặt.

2. Trần Quốc P, sinh ngày 28 tháng 01 năm 1998, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện T (N là tổ dân phố H, phường H, thành phố T), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc T3 và bà Phạm Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang ngày 24-9-2024; tạm giữ ngày 25-9-2024; tạm giam ngày 01-10-2024; có mặt.

3. Nguyễn Văn Q, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2005, tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Tổ dân phố H, thị trấn N, huyện T (N là Tổ dân phố H, phường T, thành phố T), thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4 và bà Nguyễn Thị T5; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số: 162/2024/HS-ST ngày 24-7-2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Văn Q 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Nguyễn Văn Q đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 24-7-2024 nhưng chưa thi hành án phạt tù (thời điểm phạm tội Nguyễn Văn Q 17 tuổi 02 tháng, được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự); bị bắt quả tang ngày 24-9-2024; tạm giữ ngày 25-9-2024; tạm giam ngày 01-10-2024; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Quàng Thị H1; vắng mặt;
  2. Chị Quàng Thị H2; vắng mặt;
  3. Chị Lò Thị T6; vắng mặt;
  4. Anh Trần Văn N1; vắng mặt;
  5. Anh Nguyễn Văn T7; vắng mặt;
  6. Chị Vũ Thị T8; có mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Ông Phạm Đình Đ; vắng mặt;
  2. Ông Đỗ Văn T9; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 40 phút ngày 24-9-2024, tại đường T thuộc Thôn E, xã K, huyện T (N là Thôn E, khu vực K, xã N, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và ma túy, Công an huyện T kết hợp với Công an xã K (Nay là Công an xã N) kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Q có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy với mục đích để bán. Thu giữ tại túi quần phía sau bên trái Nguyễn Văn Q đang mặc có 01 túi nilon kích thước (3x3)cm bên trong chứa 01 viên nén và 01 túi nilon kích thước (3x3)cm bên trong chứa 02 viên nén, đều có hình tròn, màu hồng, in hình vương miện (Mẫu số 1); 01 túi nilon kích thước (3x3)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (Mẫu số 2). Tạm giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đen, Biển kiểm soát: 15AS-03160 do Nguyễn Văn Q điều khiển và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng gắn sim số 0793.311.279 của Nguyễn Văn Q. Tại thời điểm bắt giữ Nguyễn Văn Q còn có Trần Văn N1, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng. Tổ công tác đã đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an xã K (Nay là Công an xã N) lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 24-9-2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tại phòng ngủ số 1 tầng 2 nhà trọ của Nguyễn Tiến N thuê ở Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng có một số đối tượng tụ tập sử dụng trái phép chất ma tuý. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và ma túy, Công an huyện T kết hợp với Công an xã L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang các đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gồm Nguyễn Tiến N; Trần Quốc P; Quàng Thị H2, sinh năm 2000, nơi thường trú: Bản Cang K, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Số A T, phường T, Quận L, thành phố Hải Phòng; Quàng Thị H1, sinh năm 2004; nơi thường trú: Bản Na Dôn, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng và Lò Thị T6, sinh năm 2002; nơi thường trú: Thôn V, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng. Vật chứng thu giữ: 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, trong lòng tờ tiền có chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma tuý) được thu gom vào 01 túi nilon kích thước (5x9)cm (Mẫu số 4); 01 tẩu cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, cố định bằng một dây màu đen, thành tẩu bám dính tinh thể màu trắng (nghi là chất ma tuý) (Mẫu số 3); 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng thu giữ tại mặt đệm trong phòng Nguyễn Tiến N; 01 túi nilon kích thước (5x8)cm bên trong chứa 03 viên nén hình tròn, màu hồng, bề mặt in hình vương miện (nghi là chất ma tuý) (Mẫu số 2) và 03 túi nilon kích thước (3x3)cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma tuý) (Mẫu số 1) do Nguyễn Tiến N tự nguyện giao nộp. Tổ công tác đã đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an xã L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp Phòng ngủ số 1 của Nguyễn Tiến N thuê ở Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ tại mặt đệm trong phòng ngủ có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh gắn sim số 0333.383.671 đã qua sử dụng của Nguyễn Tiến N.

Khám xét khẩn cấp nhà trọ của Nguyễn Tiến N thuê ở Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng; nơi ở và khu vực có liên quan của Trần Quốc P thuộc thôn H, xã H, huyện T (N là tổ dân phố H, phường H, thành phố T), thành phố Hải Phòng; nơi ở của Nguyễn Văn Q ở Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ án.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Tiến N, Trần Quốc P, Quàng Thị H1 và Quàng Thị H2 dương tính với chất ma tuý MDMA, Ketamine và Methamphetamine; kết quả xét nghiệm nước tiểu của Lò Thị Tuyết âm T10 với các chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1120/KL-KTHS ngày 30-9-2024 của Phòng K2, Công an thành phố H, kết luận: 03 viên nén màu hồng thu giữ tại túi quần Nguyễn Văn Q đang mặc của (mẫu số 1) gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,05 gam, loại MDMA và Ketamine; tinh thể màu trắng thu giữ tại túi quần Nguyễn Văn Q đang mặc của (mẫu số 2) gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,73 gam, loại Ketamine.

Tại Kết luận giám định số 1118/KL-KTHS ngày 30-9-2024 của Phòng K2, Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng do Nguyễn Tiến N giao nộp của (mẫu số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,18 gam, loại Ketamine; 03 viên nén màu hồng do Nguyễn Tiến N giao nộp của (mẫu số 2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,08 gam, loại MDMA và Ketamine; tinh thể màu trắng bám dính trong ống cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng của (mẫu số 3) gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên; tinh thể màu trắng thu giữ trong phòng trọ Nguyễn Tiến N của (mẫu số 4) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,39 gam, loại Ketamine.

Tại Kết luận giám định số 268/KL-KTHS ngày 21-01-2025 của V Bộ C1, kết luận: Hàm lượng chất ma tuý MDMA có trong các mẫu ký hiệu 1120-M1 và 1118-M2 gửi giám định lần lượt là 34,5% và 35,0%. Như vậy, trong 1,05 gam ma tuý, loại MDMA và Ketamine của mẫu ký hiệu 1120-M1 có 0,36225 gam MDMA và 0,68775 gam Ketamine; trong 1,08 gam ma tuý, loại MDMA và Ketamine của mẫu ký hiệu 1118-M2 có 0,378 gam MDMA và 0,702 gam Ketamine.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến N và Trần Quốc P khai nhận: Nam làm quản lý nhân viên phục vụ các quán Karaoke, do chưa có chỗ ăn, ở cho các nhân viên, N biết Trần Văn N1 đang thuê một căn nhà ở Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng nên N đến đặt vấn đề với N1 để thuê lại tầng hai của căn hộ với giá 1.500.000 đồng/tháng từ đầu năm 2024. N đã chuyển cho N1 tiền thuê nhà bốn tháng là 6.000.000 đồng. Tầng 2 có hai phòng, N ở phòng số 1 cùng với Quàng Thị H1, các nhân viên còn lại ở phòng số 2. Khoảng giữa tháng 8-2024, thấy một số khách hát có nhu cầu sử dụng ma túy thuốc lắc và Ketamine nên N nảy sinh ý định mua ma túy thuốc lắc và Ketamine về bán kiếm lời. Bản thân N đã nhiều lần mua ma túy Ketamine và thuốc lắc của một người cũng tên N và liên lạc mua ma túy trên mạng xã hội Telegram với người tên N. Nguyễn Tiến N chỉ nhớ lần gần nhất cách ngày bị bắt khoảng hơn một tuần đã mua của N 10 viên ma túy thuốc lắc và 05 chỉ ma túy Ketamine để bán, địa điểm giao dịch mua bán ma tuý là gầm cầu K thuộc xã K, huyện T (N là phường L, thành phố T), thành phố Hải Phòng. Tại điểm hẹn, người bán ma túy yêu cầu Nguyễn Tiến N để tiền vào vị trí người bán chỉ. Sau khi người bán xác nhận đã lấy được tiền thì liên lạc và chỉ cho Nguyễn Tiến N đến chỗ lấy ma túy. Nguyễn Tiến N mua ma túy của người tên N với giá 250.000 đồng/01 viên ma túy thuốc lắc và 1.000.000 đồng/01 chỉ ma túy Ketamine. Mua được ma túy, Nguyễn Tiến N mang về cất giấu với mục đích để bán và thuê Nguyễn Văn Q mang ma túy đi bán. N trả công cho Q 200.000 đồng/01 lần giao ma túy và cho Q ăn ở tại nhà trọ do N thuê, số tiền công này N sẽ thu của khách mua ma tuý 100.000 đồng, còn lại 100.000 đồng N bỏ ra để trả công cho Q. Nguyễn Tiến N thống nhất với Q giá bán ma túy cho khách là 280.000 đồng/01 viên ma túy thuốc lắc và 1.300.000 đồng/01 chỉ ma túy Ketamine. Khi có khách hỏi mua ma tuý, Nguyễn Tiến N sẽ thỏa thuận với khách số lượng ma tuý, điểm hẹn giao dịch, tiền khách phải thanh toán và phí giao ma tuý là 100.000đồng/01 lần giao. Sau khi thỏa thuận xong, Nguyễn Tiến N sẽ đưa ma tuý cùng số điện thoại của khách cho Q để Q mang đi bán cho khách và thu tiền bán ma túy về trả cho Nguyễn Tiến N. Nguyễn Tiến N và Nguyễn Văn Q đã bán ma tuý nhiều lần nhưng không nhớ cụ thể bán cho ai và vào thời gian nào. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24-9-2024, Nguyễn Tiến N cùng Quàng Thị H1 về nhà trọ nghỉ. Sau khi vào phòng, N nảy sinh ý định sử dụng ma túy Ketamine. N lấy trong kẽ đệm ra một tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng chứa một ít ma túy Ketamine chưa sử dụng hết và 01 tẩu cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, cố định bằng dây màu đen có sẵn. N lấy tẩu gạt ra hai đường rồi hít hết sau đó để tờ tiền chứa ma túy cùng tẩu xuống đệm cho H1 sử dụng. H1 tự lấy tờ tiền chứa ma túy Ketamine và tẩu cuốn rồi hít hai đường. Trong khi N và H1 đang sử dụng ma túy thì P là bạn của N đến, N bảo P: “Có làm tý không bạn?” P tự lấy tờ tiền chứa ma túy cùng tẩu cuốn hít hai đường Ketamine. Khi thấy số ma túy trong tờ tiền đã gần hết, P lấy trong người ra một túi ma túy Ketamine vứt ra đệm và nói với N: “Bạn ơi đánh tỷ K1 chơi”. Cùng lúc này, Nam có điện thoại của một người nam giới (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) gọi đến nên N đi ra ngoài nghe điện thoại. Người nam giới hỏi mua 01 chỉ ma túy Ketamine và 03 viên ma túy thuốc lắc. N báo giá bán ma tuý. Người nam giới đồng ý và hẹn mang đến nhà nghỉ M ở xã K, huyện T (N là xã N, thành phố T), thành phố Hải Phòng để giao dịch. N đi vào phòng nghỉ nhân viên gọi Q dậy bảo Q đi giao ma túy cho khách, Q đồng ý. Sau khi Q mang ma túy đi bán, N quay lại phòng nghỉ. Trong lúc N ra ngoài nghe điện thoại và bảo Q đi giao ma túy cho khách thì P ở trong phòng tự xào, kẻ ma túy rồi sử dụng. Sau đó, P để ma túy xuống đệm để ai sử dụng thì sử dụng thì H1 tự lấy ma túy sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, P và H1 nằm ra đệm. Khi N quay lại phòng trọ thì thấy trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng đã có thêm ma túy Ketamine được nghiền nhỏ nên N tự lấy tẩu cuốn gạt hai đường Ketamine để sử dụng rồi nằm ra giường. Khoảng 30 phút sau, Quàng Thị H2 là bạn gái của P và Lò Thị T6 là nhân viên N đang quản lý vào phòng. Sau đó, N, P, H1, H2, T6 đang nằm nghe nhạc thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ những vật chứng như trên. N và P khai trước đó có sử dụng ma tuý một mình nên kết quả xét nghiệm nước tiểu ngày 25-9-2024 dương tính với ma tuý Ketamine, MDMA và Methamphetamine. Số ma tuý N giao nộp, N cất giấu với mục đích để bán.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Q khai nhận: Q và Nguyễn Tiến N là anh em xã hội chơi với nhau từ khoảng giữa năm 2024. Khoảng giữa tháng 8-2024, Q được N thuê đi giao ma túy (tiền phí giao ma túy là 100.000 đồng/01 lần giao và khi mang tiền giao ma túy về N sẽ trả thêm cho Q 100.000 đồng nữa). N thống nhất với Q giá bán một viên thuốc lắc là 280.000 đồng và một chỉ Ketamine là 1.300.000 đồng. Người quản lý ma túy là N nhưng có lúc lại giao cho Q quản lý. Khi có khách mua ma tuý thì N sẽ báo cho Q số lượng ma túy, số điện thoại của khách, điểm hẹn giao dịch, tiền khách phải thanh toán và phí giao. Ngoài ra, nếu có khách liên hệ trực tiếp với Q thì Q sẽ tự báo giá bán ma túy và phí giao ma túy. Bản thân Q đã bán ma túy cho nhiều người nhưng Q không nhớ được bán cho ai, ở đâu vào thời gian nào. Khoảng 13 giờ ngày 24-9-2024, Q đang ngủ tại phòng số 2 ở tầng 2 nhà trọ N thuê thì N vào gọi bảo Q đi giao 03 viên ma tuý thuốc lắc và 01 chỉ ma túy Ketamine cho khách ở xã K và cho Q số điện thoại của khách đặt mua là 0705.617.839. Lúc này Q đang quản lý 06 viên thuốc lắc và 04 túi ma túy Ketamine (mỗi túi là 01 chỉ) để bán. Q lấy 01 túi Ketamine và 03 viên ma túy thuốc lắc mang đi giao, số ma túy còn lại Q đưa lại cho N quản lý. Q cất 03 viên ma túy thuốc lắc và 01 túi ma túy Ketamine vào túi quần phía sau bên trái đang mặc rồi xuống tầng 1 gặp anh Trần Văn N1 mượn xe mô tô Biển kiểm soát 15AS 03160 của N1 để đi giao ma túy. Q chỉ nói với N1 mượn xe để đi có việc và rủ N1 đi cùng. Q điều khiển xe mô tô chở N1 đến xã K, huyện T (N là xã N, thành phố T), thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, khi đến Tỉnh lộ 352 thuộc Thôn E, xã K, huyện T (N là xã N, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Q chưa kịp giao ma túy cho khách mua thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên. Trước khi bị bắt Q đã một mình sử dụng ma tuý nên kết quả xét nghiệm nước tiểu của Q ngày 25-9-2024 dương tính với ma tuý Ketamine, MDMA và Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, chị Quàng Thị H1 khai nhận phù hợp với lời khai của Nguyễn Tiến N và Trần Quốc P về việc H1 đã sử dụng trái phép chất ma tuý Ketamine cùng với Nguyễn Tiến N và Trần Quốc P tại phòng trọ của Nguyễn Tiến N thuê ở Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng. Việc Nguyễn Tiến N bán trái phép chất ma tuý H1 không biết và không tham gia. Trước đó, H1 có sử dụng ma tuý với khách (không rõ nhân thân, lai lịch) nên kết quả xét nghiệm nước tiểu của H1 ngày 25-9-2024 dương tính với ma tuý Ketamine, MDMA và Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, chị Quàng Thị H2 khai: Khi H2 vào phòng ngủ số 1 tầng 2 nhà trọ của Nguyễn Tiến N thấy đã có sẵn ma túy trên đệm nên tự ý lấy tẩu cuốn và cầm tờ tiền chứa ma tuý Ketamine rồi dùng tẩu gạt một ít ma tuý Ketamine sử dụng nhưng không rõ ma tuý của ai mang vào. Trước đó, H2 có sử dụng ma tuý với khách (không rõ nhân thân, lai lịch) nên kết quả xét nghiệm nước tiểu của Hinh ngày 25-9-2024 dương tính với ma tuý Ketamine, MDMA và Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, chị Lò Thị T6 khai không sử dụng trái phép ma túy cùng với Nguyễn Tiến N, Trần Quốc P, Quàng Thị H1 và Quàng Thị H2 tại phòng ngủ số 1 tầng 2 nhà trọ của Nguyễn Tiến N.

Tại Cơ quan điều tra, anh Trần Văn N1 khai: Từ cuối năm 2023, N1 thuê nhà của chị Vũ Thị T8, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn N, huyện T (N là Tổ dân phố H, phường T, thành phố T), thành phố Hải Phòng để ở. Khi Nguyễn Tiến N hỏi thuê lại tầng 2 của căn nhà, N1 đã đồng ý với giá 1.500.000 đồng/tháng. Việc N1 cho N thuê lại tầng 2 căn nhà, N1 không nói với chị T8. Ngày 24-9-2024, N1 cho Q mượn xe và đi cùng Q nhưng không biết việc Q mượn xe đi bán trái phép ma tuý.

Tại Cáo trạng số: 51/CT-VKSTN ngày 20-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố bị can Nguyễn Tiến N về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo theo khoản 1 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị can Trần Quốc P về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị can Nguyễn Văn Q về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Tiến N về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; truy tố bị cáo Trần Quốc P về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội Mua bán trái phép chất ma tuý như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Tiến N phải chấp hành hình phạt chung; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Quốc P mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù; căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng của Bản án số: 162/2024/HS-ST ngày 24-7-2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày 24-9-2024. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong số 268/KL-KTHS của V, Bộ C1 bên trong có 01 phong bì đã cắt mép số 1120MT/PC09 bên trong có: Mẫu số 1 có 0,71 gam chất bột màu hồng trong túi nilon, ký hiệu 1120-M1; Mẫu số 2 có 0,55 gam tinh thể màu trắng trong túi nilon và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì đã cắt mép số 1118MT/PC09 bên trong có: Mẫu số 2 có 0,76 gam chất bột màu hồng trong túi nilon, ký hiệu 1118-M2; Mẫu số 1 có 1,97 gam tinh thể màu trắng trong túi nilon; Mẫu số 3 có 01 dây chun màu đen; Mẫu số 4 có 0,27 gam tinh thể màu trắng trong túi nilon và vỏ bao gói mẫu; 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được niêm phong lại trong bì giấy theo dấu niêm phong số 1118MT-A/PC09, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh gắn sim số 0333.383.671 đã qua sử dụng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng gắn sim số 0793.311.279 đã qua sử dụng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Mỗi bị cáo (Nguyễn Tiến N, Trần Quốc P và Nguyễn Văn Q) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thàn phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Hồi 13 giờ 40 phút ngày 24-9-2024, tại đường T thuộc Thôn E, xã K, huyện T (N là xã N, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn Q đã có hành vi cất giấu trái phép 0,36225 gam ma tuý loại MDMA và 1,41775 gam ma tuý loại Ketamine (0,68775 gam + 0,73 gam) mục đích để bán cho người khác kiếm lời thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và ma túy, Công an huyện T kết hợp với Công an xã K (N là Công an xã N) bắt quả tang. Nguồn gốc ma tuý bị thu giữ là của Nguyễn Tiến N giao cho Q đi bán. Còn Nguyễn Tiến N đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 0,378 gam ma tuý loại MDMA và 2,882 gam ma tuý loại Ketamine (2,18 gam + 0,702 gam). Nguồn gốc ma tuý thu giữ của các bị cáo là do Nguyễn Tiến N đã mua của một người cũng tên N. Sau đó, Nguyễn Tiến N và Q cất giấu nhằm mục đích để bán cho người khác kiếm lời. Như vậy, có căn cứ xác định Nguyễn Tiến N và Q đã cất giấu 0,74025 gam ma tuý loại MDMA và 4,29975 gam ma tuý loại Ketamine nhằm mục đích để bán cho người khác kiếm lời. Ngoài ra, hồi 14 giờ 15 phút ngày 24-9-2024, tại phòng số 1 tầng 2 nhà trọ của Nguyễn Tiến N thuê ở Thôn A, xã L, huyện T (N là Thôn A, khu vực L, xã L, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Nguyễn Tiến N có hành vi chuẩn bị địa điểm, cung cấp ma tuý Ketamine và công cụ để sử dụng trái phép chất ma tuý là 01 tẩu cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng chứa ma tuý Ketamine và 01 bật lửa màu đỏ đã qua sử dụng; Trần Quốc P có hành vi cung cấp ma tuý Ketamine, xào, kẻ ma túy Ketamine để cho Nguyễn Tiến N, Trần Quốc P, Quàng Thị H1 và Quàng Thị H2 sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến N đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 và Điều 255 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trần Quốc P đã cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý: Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02-02-2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự, thì tổng khối lượng hai chất ma túy đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Tiến N và Nguyễn Văn Q tính theo tỉ lệ % so với mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: (0,74025 gam MDMA x 100 : 5) + (4,29975 gam Ketamine x 100 : 20) = 36,30375% (thuộc trường hợp dưới 100%). Như vậy, tổng khối lượng của hai chất ma tuý thu giữ của bị cáo Nguyễn Tiến N và Nguyễn Văn Q không thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, nên bị cáo Nguyễn Tiến N và Nguyễn Văn Q phạm khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết định khung hình phạt đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: Các bị cáo Nguyễn Tiến N và Trần Quốc P đã chuẩn bị địa điểm, cung cấp ma tuý và công cụ để Nguyễn Tiến N, Trần Quốc P, Quàng Thị H1 và Quàng Thị H2 sử dụng trái phép chất ma tuý, nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[6] Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[7] Tính chất vụ án rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị cáo không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.

[8] Xét vai trò đồng phạm của bị cáo Nguyễn Tiến N và Nguyễn Văn Q về tội Mua bán trái phép chất ma tuý: Bị cáo N là người nhờ bị cáo Q đi giao ma tuý cho khách và được N trả tiền công. Qua đó, đánh giá rằng, bị cáo N là người rủ rê, lôi kéo còn bị cáo Q là người thực hành, giúp sức. Như vậy, cần đánh giá vai trò đồng phạm của bị cáo Nam cao hơn bị cáo Q.

[9] Xét vai trò đồng phạm của bị cáo Nguyễn Tiến N và Trần Quốc P về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: Bị cáo N là người chuẩn bị địa điểm, cung cấp ma tuý và công cụ để sử dụng trái phép chất ma tuý; bị cáo P là người cung cấp ma tuý, xào, kẻ ma túy để cho Nguyễn Tiến N, Trần Quốc P, Quàng Thị H1 và Quàng Thị H2 sử dụng nên cần đánh giá vai trò đồng phạm của bị cáo Nam cao hơn bị cáo P.

[10] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[11] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo N có bác Trần Văn C là liệt sỹ. Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác đối với bị cáo N.

[11.1] Bị cáo Nguyễn Văn Q đã bị xử phạt 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng tại Bản án số: 162/2024/HS-ST ngày 24-7-2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn Q 17 tuổi 02 tháng nên được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự. Đến nay, bản án này đã có hiệu lực pháp luật, nên cần được tổng hợp với hình phạt của bị cáo tại bản án ngày hôm nay để buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

[12] Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly có thời hạn đối với các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[13] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Tiến N và Nguyễn Văn Q còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Tiến N và Trần Quốc P còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo làm nghề lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[14] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì niêm phong số 268/KL-KTHS của V, Bộ C1 bên trong có 01 phong bì đã cắt mép số 1120MT/PC09 bên trong có: Mẫu số 1 có 0,71 gam chất bột màu hồng trong túi nilon, ký hiệu 1120-M1; Mẫu số 2 có 0,55 gam tinh thể màu trắng trong túi nilon và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì đã cắt mép số 1118MT/PC09 bên trong có: Mẫu số 2 có 0,76 gam chất bột màu hồng trong túi nilon, ký hiệu 1118-M2; Mẫu số 1 có 1,97 gam tinh thể màu trắng trong túi nilon; Mẫu số 3 có 01 dây chun màu đen; Mẫu số 4 có 0,27 gam tinh thể màu trắng trong túi nilon và vỏ bao gói mẫu; 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được niêm phong lại trong bì giấy theo dấu niêm phong số 1118MT-A/PC09 là công cụ các bị cáo dùng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh gắn sim số 0333.383.671 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tiến N, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng gắn sim số 0793.311.279 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Q là vật các bị cáo sử dụng để giao dịch mua bán chất ma tuý, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[15] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đen, Biển kiểm soát 15AS-03160 tạm giữ của Nguyễn Văn Q. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn N1. Anh N1 cho Q mượn xe mô tô để sử dụng đi lại nhưng không biết việc Q sử dụng xe để đi giao ma túy, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh N1 quản lý, sử dụng.

[16] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của chị Quàng Thị H1 và chị Quàng Thị H2, Công an huyện T (Sau này là Công an thành phố T), thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[17] Đối với anh Trần Văn N1 không biết và không tham gia vào việc bán ma túy của Nguyễn Văn Q; không biết việc các đối tượng sử dụng ma tuý tại nhà trọ nên Cơ quan điều tra không xử lý.

[18] Đối với chị Vũ Thị T8 là chủ nhà trọ, đã cho Trần Văn N1 thuê trọ nhưng không biết việc N1 cho Nguyễn Tiến N thuê lại tầng 2 nhà trọ; không biết việc các đối tượng cất giấu và sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà trọ của mình nên Cơ quan điều tra không xử lý.

[19] Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Tiến N và Trần Quốc P, tài liệu điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

[20] Đối với Nguyễn Tiến N và Nguyễn Văn Q khai đã bán ma tuý nhiều lần nhưng không nhớ bán cho ai, ở đâu. Cơ quan điều tra đã có Công văn gửi Tổng Công ty V1, Tổng Công ty V2, Ngân hàng thương mại cổ phần T12 đề nghị hỗ trợ xác minh nhưng đến nay chưa nhận được văn bản trả lời nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.

[21] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố

bị cáo Nguyễn Tiến N phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N 04 (B) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Tiến N phải chấp hành hình phạt chung là 12 (Mười hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt quả tang 24-9-2024.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố

bị cáo Trần Quốc P phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý;

Xử phạt bị cáo Trần Quốc P 08 (T11) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt quả tang 24-9-2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố

bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng của Bản án số: 162/2024/HS-ST ngày 24-7-2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt quả tang 24-9-2024.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong số 268/KL-KTHS của V, Bộ C1 bên trong có 01 phong bì đã cắt mép số 1120MT/PC09 bên trong có: Mẫu số 1 có 0,71 gam chất bột màu hồng trong túi nilon, ký hiệu 1120-M1; Mẫu số 2 có 0,55 gam tinh thể màu trắng trong túi nilon và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì đã cắt mép số 1118MT/PC09 bên trong có: Mẫu số 2 có 0,76 gam chất bột màu hồng trong túi nilon, ký hiệu 1118-M2; Mẫu số 1 có 1,97 gam tinh thể màu trắng trong túi nilon; Mẫu số 3 có 01 dây chun màu đen; Mẫu số 4 có 0,27 gam tinh thể màu trắng trong túi nilon và vỏ bao gói mẫu; 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được niêm phong lại trong bì giấy theo dấu niêm phong số 1118MT-A/PC09, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh gắn sim số 0333.383.671 đã qua sử dụng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng gắn sim số 0793.311.279 đã qua sử dụng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21-02-2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên và Biên bản giao nhận tài sản ngày 21-02-2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Kho bạc Nhà nước H3.

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo (Nguyễn Tiến N, Trần Quốc P và Nguyễn Văn Q) phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND TP. Hải Phòng;
  • -VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP.Thuỷ Nguyên;
  • - Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS TP.Thuỷ Nguyên;
  • - Trại giam Công an TP. Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Hữu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn TIến Nam và đồng bọn phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger