Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG-THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HS-ST

Ngày: 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Hà và bà Nguyễn Thị Minh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc H - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 và 21 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 03-3-2025 đối với:

Bị cáo: Trần C, sinh năm 1966 tại Phú Yên; Nơi cư trú: Số E đường P, khu phố E, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: thợ sửa xe; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần S (chết) và bà Lê Thị T (chết); Có 03 con; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 18-11-1982, bị Ủy ban nhân dân tỉnh T ra Quyết định đưa đi cải tạo tập trung 03 năm.

Ngày 10-8-1995, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận, xử phạt 06 năm tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trốn khỏi nơi giam”. Chấp hành xong hình phạt ngày 02-7-1999.

Ngày 28-7-2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-T xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05-4-2015 chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-01-2023, ngày 18-01-2023 được trả tự do sau đó bị bắt tạm giam vào ngày 13-11-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P - T - Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).

Bị hại: Ông Trần Quốc L, sinh năm: 1978 (vắng mặt và có đơn xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 05 giờ 30 phút, ngày 16 tháng 01 năm 2023 Công an phường P, thành phố P - T tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của ông Trần Quốc L về việc: Vào lúc 05 giờ 10 phút, ngày 16-01-2023 ông L ngủ dậy phát hiện xe mô tô biển số 85B1-002.86, nhãn hiệu Airblade, màu đen bạc của ông L dựng trước sân nhà bị mất, trong cốp xe có để 01 ví da màu nâu có ký hiệu Levi's – 501 (trong ví da có 01 căn cước công dân và 01 đăng ký mô tô biển số 85B1-002.86 đều mang tên ông L). Sau khi tiếp nhận trình báo, Công an phường P đã thông báo đến Công an thành phố P-T biết để phối hợp điều tra.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Cửa cổng ra vào nhà ông L là cửa sắt 04 cánh, các khung sắt sơn màu trắng – xám. Tại vị trí khung cửa thứ 2 theo hướng từ trái qua phải bị mất 03 thanh sắt để lộ khoảng trống có kích thước (23 x 100) cm. Phía trong cửa, trên vị trí này phát hiện khoen khoá cửa bị gãy khỏi vị trí ban đầu, vị trí gãy cách mặt đất 110cm; Tại vị trí khoen cửa còn lại trên cánh cửa thứ 3 phát hiện 01 ổ khoá có chữ “VIỆT TIỆP” kích thước (9,5 x 5,6)cm, tai khoá đường kính 0,9cm trong tình trạng khoá móc vào 02 khoen khoá cửa. Phía sau cửa là phần sân rộng (05 x 05)m, vị trí để xe mô tô biển số 85B1-002.86 bị mất.

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 16 tháng 01 năm 2023 Công an phường P, thành phố P-T, tiến hành tuần tra kiểm soát phòng chống tội phạm trên địa bàn phường P. Khi đi đến đoạn đường P thuộc khu phố I, phường P, thành phố P - T thì phát hiện Trần C đang điều khiển xe mô tô biển số 85B1-002.86, nhãn hiệu Airblade, màu đen bạc (biển số xe được xịt sơn màu trắng bạc làm mờ biển số xe) nên tổ tuần tra đã tiến hành lập biên bản tạm giữ phương tiện và đưa Trân C đến Cơ quan Công an làm việc.

Tại Cơ quan Công an, kiểm tra trên người của Trần C có các đồ vật tài liệu gồm: 01 ví da, màu nâu có ký hiệu Levi's – 501, bên trong ví da có: 01 căn cước công dân mang tên Trần Quốc L; 01 đăng ký mô tô của xe mô tô biển số 85B1-002.86, nhãn hiệu Honda – Airblade, màu đen bạc, mang tên Trần Quốc L và một số đồ vật, tài liệu khác.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà bị cáo Trần C, phát hiện và tạm giữ:

  • 02 bình xịt sơn màu bạc, nhãn hiệu Win đã qua sử dụng;
  • 02 kìm cộng lực màu xanh (trong đó 01 kìm cộng lực 18 in; 01 kìm cộng lực 36 in);
  • 01 thanh kim loại dài 01m đã đập dẹp một đầu; 01 thanh kim loại dài 47cm đập dẹp 02 đầu, 01 đầu được bẻ cong;
  • 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu đen;
  • 01 đôi tất bằng vải màu xanh;
  • 01 đôi găng tay bằng vải len màu đen; 01 đôi găng tay bằng chất liệu da, màu đen;
  • 01 bịt mặt màu xanh;
  • 01 thẻ nhớ nhãn hiệu DSS, 32Gb;

Tại cơ quan điều tra Trần C khai nhận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15 tháng 01 năm 2023 đến sáng ngày 16 tháng 01 năm 2023, Trần Cảm N ở nhà tại số E đường P, thuộc khu phố E, phường P, thành phố P- T. Cùng ở nhà với Trần C còn có Huỳnh Thị Hồng A là con gái ruột của Trần Cảm . Ngoài hai cha con, không có ai khác đến và ở lại nhà Trần C trong khoảng thời gian này. Khoảng 09 giờ đến 10 giờ 30 phút ngày 16-01-2023, sau khi C thay nhớt xe cho một xe mô tô hiệu Wave, màu xanh của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) tại nhà của C thì có 01 nam thanh niên khoảng 28 tuổi, mặc quần Jean màu xanh, áo thun (không nhớ màu áo) điều khiển 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda – Airblade, màu đen, biển số 85B1-002.86 chạy vào sân nhà C. Phía trước nhà còn có 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) nhãn hiệu kiểu dáng Dream đứng đợi. Sau đó, nam thanh niên điều khiển xe mô tô hiệu Airblade hỏi cầm xe này cùng đăng ký xe cho C. Khi C xem xe thì thấy biển số xe bị xịt sơn màu bạc nên hỏi lý do thì được nam thanh niên giải thích do bị mấy đứa cháu nghịch xịt sơn lên. C đồng ý và lấy 03 triệu đồng đưa cho nam thanh niên trên. Sau khi lấy được tiền thì người này đi ra cùng với người thanh niên đang đợi bên ngoài bỏ đi. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi C đang điều khiển xe mô tô trên thì bị lực lượng tuần tra phát hiện, tạm giữ tang vật.

Quá trình xác minh, Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất hình ảnh Camera an ninh của Công an phường P được gắn trên tuyến đường P thuộc khu phố E, phường P, thành phố P-T (đối diện nhà của Trần C) và thu được 511 đoạn video liên tục về thời gian từ 00 giờ 00 phút ngày 15-01-2023 đến 18 giờ 35 phút, ngày 16-01-2023. Trong đó, đã ghi lại được hình ảnh vào lúc 23 giờ 01 phút, ngày 15-01-2023, có 02 người đàn ông điều khiển xe máy kiểu dáng Cup 50 màu xanh đi ra khỏi nhà số E, đường P thuộc khu phố E, phường P, thành phố P - T (là nhà của Trần C), trong đó người đàn ông đội mũ bảo hiểm màu trắng, mặc áo dài tay, quần dài đều màu xám, đi giày đen điều khiển xe máy Cup 50 (không rõ biển số xe) chở 01 người đàn ông đội mũ bảo hiểm kiểu lưỡi trai màu đen, mặc áo dài tay, quần lửng. Đến 03 giờ 23 phút, ngày 16-01-2023, người đàn ông đội mũ bảo hiểm màu trắng, mặc áo dài tay, quần dài đều màu xám, đi giày đen điều khiển xe máy kiểu dáng Cup 50 màu xanh, đi một mình, quay lại nhà của Trần C để mở cửa. Đến 03 giờ 24 phút, người đàn ông đội mũ bảo hiểm kiểu lưỡi trai màu đen, mặc áo dài tay, quần lửng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda – Airblade màu đen bạc (giống với đặc điểm xe mô tô của ông L bị mất) đi vào nhà của Trần Cảm . Tuy nhiên bị cáo Trần C cho rằng hình ảnh này do cắt ghép mà có.

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 04/KLTS ngày 18 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P - T kết luận: 01 xe mô tô biển số 85B1-002.86, màu đen, thời điểm ngày 16/01/2023 xe mô tô trên có trị giá 10.500.000 đồng.

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 87/KLTS ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P - T kết luận: Vào ngày 16 tháng 01 năm 2023, 01 ví da màu nâu, kích thước 11x9,5cm, mặt ví có ghi chữ Levi's-501 có giá trị thực có là 45.000 đồng.

- Tại Bản kết luận giám định số 127/KL-KTHS, ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Phòng kỷ thuật hình sự, Công an tỉnh L kết luận: Các dấu vết trầy xước trên ổ khóa không đủ yếu tố giám định.

- Tại Bản kết luận giám định số 3602/KL-KTHS, ngày 06 tháng 6 năm 2023 của V Bộ C1 (giám định 02 bình sơn thu tại nhà đối tượng C và dấu vết sơn trên biển số xe bị trộm cắp). Kết luận: Mẫu sơn màu bạc đựng trong 02 chai sơn màu bạc của mẫu giám định và mẫu sơn màu bạc dính trên 01 biển số 85B1-002.86 của mẫu so sánh, gửi giám định có thành phần hoá học cơ bản giống nhau.

- Tại Bản kết luận giám định số 123/KL-KTHS ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép nội dung trong 50 tập tin video gửi giám định.

- Tại Bản kết luận giám định số 205 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: 50 tập tin gửi giám định có thời gian hiển thị diễn ra liên tục, không bị gián đoạn.

- Tại Bản kết luận giám định số 253, ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: 511 đoạn video thời gian từ 00 giờ 00 phút ngày 15-01-2023 đến 18 giờ 35 phút, ngày 16-01-2023 của Camera an ninh của Công an phường P được gắn trên tuyến đường P thuộc khu phố E, phường P, thành phố P - T (đối diện nhà của đối tượng Trần C) gửi giám định diễn ra liên tục, không bị gián đoạn.

Do vậy, Cơ quan điều tra xác định: Trong khoảng thời gian 00 giờ 00 phút, ngày 15-01-2023 đến 18 giờ 35 phút, ngày 16-01-2023 không có 02 nam thanh niên nào có đặc điểm và đi xe mô tô hiệu Airblade biển số 85B1-002.86 đến nhà của Trần C như lời trình bày của C. Tại Cơ quan điều tra, Trần C không thừa nhận mình là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông L.

Với những tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan điều tra xác định: Vào rạng sáng ngày 16-01-2023, tại nhà ông Trần Quốc L, ở khu phố A, phường P, thành phố P-T, Trần C đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô biển số 85B1-002.86, nhãn hiệu Honda – Airblade, màu đen bạc, trong cốp xe mô tô có 01 ví da màu nâu có ký hiệu Levi's – 501 (trong ví da có 01 căn cước công dân và 01 đăng ký mô tô biển số 85B1-002.86 đều mang tên Trần Quốc L) của ông L. Sau khi lấy trộm được xe, Trần C đem xe về nhà tại số E, đường P, thuộc khu phố E, phường P, thành phố P - T lúc 03 giờ 24 phút, ngày 16-01-2023. Tại đây, C sử dụng bình xịt sơn nhãn hiệu Win có sẵn trong nhà xịt lên biển số xe 85B1-002.86 nhằm làm mờ biển số xe, tránh bị phát hiện. Đến 18 giờ 24 phút cùng ngày, khi C điều khiển xe mô tô đã trộm được ra khỏi nhà thì bị lực lượng Công an phát hiện, tạm giữ xe mô tô biển số 85B1-002.86 cùng các vật chứng liên quan khác là 01 ví da, màu nâu có ký hiệu Levi's – 501, bên trong ví da có 01 căn cước công dân và 01 đăng ký mô tô của xe mô tô biển số 85B1-002.86 của ông Trần Quốc L.

Tổng trị giá tài sản mà Trần C chiếm đoạt là 10.545.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Trần C quanh co chối tội, không thành khẩn khai báo.

Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung vụ án đã nêu và bị cáo khai nhận phạm tội tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có. Bị cáo khai thời gian tạm giữ của bị cáo là 04 ngày, từ ngày 17 đến 20-01-2023. Và trong quá trình lấy lời khai từ ngày 17 đến 20-01-2023, bị cáo bị các cán bộ công an đánh đập, ép bị cáo phải nhận tội trộm cắp tài sản.

Theo Đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại ông Trần Quốc L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm về dân sự và về hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng: khoản 1 Điêu 173; khoản 2 Điêu 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Cảm T1 18-24 tháng tù giam. Và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng: Bị cáo không phạm tội Trộm cắp tài sản mà phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Mong Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P – T, Điêu tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên:

[1.1] Về thời gian tạm giữ của bị cáo Trần C:

Tại phiên toà, bị cáo Trần C khai bị tạm giữ 04 ngày từ ngày 17-01-2023 đến 20-01-2023 thì được ông Nguyễn Văn T2 (cháu của bị cáo Trân C) đón bị cáo từ cơ quan điều tra công an thành phố P – T về nhà.

Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ được Cơ quan cảnh sát điều tra cung cấp, thấy rằng:

Ngày 17-01-2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P – T ban hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp số 02/LGNTTHKC và Quyết định tạm giữ số 07 tạm giữ bị cáo Trân C 03 ngày từ 08 giờ 00 phút ngày 17 tháng 01 năm 2023 đến 08 giờ 00 ngày 20 tháng 01 năm 2023.

Ngày 18-01-2023, ông Nguyễn Văn T2 (cháu của bị cáo Trân C) nộp đơn yêu cầu bảo lãnh cho Trần C (BL63).

Ngày 18-01-2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P – T ban hành Quyết định trả tự do số 01 cho bị cáo Trân Cảm . Bị cáo Trần C đã nhận Quyết định trả tự do vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 18-01-2023 (bị cáo có ký nhận và ghi họ tên).

Tại phiên toà, bị cáo khai trình độ văn hoá 2/12 nhưng biết đọc, biết viết và có thể đọc hiểu toàn bộ nội dung các văn bản.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định: bị cáo C đã nhận được Quyết định trả tự do vào ngày 18-01-2023; người bảo lãnh lập Giấy bảo lãnh cho bị cáo đê ngày 18-01-2023 và đã trực tiếp đón bị cáo về nhà; bị cáo không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc bị cáo bị tạm giữ 04 ngày nên không có cơ sở để trả hồ sơ xác định lại thời gian tạm giữ của bị cáo C.

[1.2] Về việc bị đánh đập, ép cung:

Bị cáo Trân C cho rằng bị đánh đập, ép cung gây bâm tím cơ thể nhưng sau khi được trả tự do vào ngày 18-01-2023, bị cáo không yêu câu giám định, không tới Bệnh viện để xem xét các vết thương cũng như lưu giữ làm chứng cứ và có đơn trình báo cho các cơ quan có thẩm quyên để xem xét.

Vì vậy, Hội đồng xét xử không đủ cơ sở để xem xét xử lý hành vi như lời khai của bị cáo Trân Cảm .

[1.3] Quá trình điêu tra, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Và trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đêu hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại giai đoạn điêu tra, tại phiên toà khi đại diện viện kiểm sát truy tố, bảo vệ cáo trạng và khi Hội đồng xét xử xét hỏi đêu bất nhất, khai báo quanh co.

[2.1] Trong suốt quá trình điều tra bị cáo khai: nhận câm cố 01 xe mô tô Airblade của 02 người thanh niên và đưa số tiên 3.000.000đông cho 02 người thanh niên. Bị cáo không biết, không nghi ngờ xe mô tô A1 là xe bị trộm cắp.

Tại phiên toà, bị cáo thay đổi lời khai: Bị cáo không phạm tội trộm cắp tài sản mà phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng không cung cấp được thông tin về người bán tài sản đã trộm cắp cho bị cáo và tại cơ quan điều tra bị cáo mới biết xe mô tô là tài sản bị trộm cắp.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định: Nếu bị cáo không hứa hẹn và không biết xe mô tô là xe trộm cắp khi nhận cầm cố thì không đủ cơ sở cấu thành tội tiêu thị tài sản do người khác phạm tội mà có. Đây chỉ là lời khai báo quanh co nhâm chối tội của bị cáo Trân Cảm .

[2.2] Bị cáo khai: các đoạn video được trình chiếu tại phiên toà bị cáo đã được Công an cho xem vào ngày 17-01-2023 nhưng các đoạn video trên là cắt ghép, được tạo sau ngày 20-01-2023 (ngày bị cáo được trả tự do) vì: trước ngày 17-01-2023 (ngày bị bắt) đoạn đường nhà bị cáo không được gắn camera; chỉ sau khi được trả tự do (ngày 20-01-2023) Công an mới gắn camera ở đoạn đường nhà bị cáo.

Theo Bản kết luận giám định số 123/KL-KTHS ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép nội dung trong 50 tập tin video gửi giám định.

- Tại Bản kết luận giám định số 205 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: 50 tập tin gửi giám định có thời gian hiển thị diễn ra liên tục, không bị gián đoạn.

- Tại Bản kết luận giám định số 253, ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: các đoạn video có thời gian hiện thị trong khoảng từ 00 giờ 00 phút 00 giây ngày 15-01-2023 đến 23 giờ 59 phút 59 giây ngày 15-01-2023 không phát hiện cắt ghép nội dung. Thời gian hiển thị trong nội dung từng video diễn ra liên tục, không bị gián đoạn. Các đoạn video có thời gian hiện thị trong khoảng từ 00 giờ 05 phút 00 giây ngày 16-01-2023 đến 18 giờ 35 phút 00 giây, ngày 16-01-2023 không phát hiện cắt ghép nội dung. Thời gian hiển thị trong nội dung từng video diễn ra liên tục, không bị gián đoạn.

Lời khai của bị cáo đã có mâu thuẫn. Được các điêu tra viên cho xem các video từ ngày 17-01-2023, các đoạn video đã xem giống các đoạn video được trình chiếu tại phiên toà thì không có việc sau ngày 20-01-2023 Công an phường P mới gắn camera ở đoạn đường nhà bị cáo và các đoạn video được nguỵ tạo ra sau ngày 20-01-2023 như lời bị cáo khai.

[2.3] Bị cáo khai: nhận câm cố xe Airblade từ 02 người thanh niên vào khoảng thời gian từ 09 giờ đến 10 giờ 30 phút ngày 16-01-2023 tại nhà bị cáo ở số E đường P, khu phố E, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Bị cáo xác định: Căn nhà E đường P, khu phố E, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận là nhà của bị cáo, chỉ có 02 người duy nhất sinh sống là bị cáo Trần C và con gái ruột là bà Huỳnh Thị Hồng A; ngoài ra, không có anh, chị, em hay gia đình, dòng họ, bạn bè tới chơi và ở lại căn nhà trên. Căn nhà này có cổng khoá, ranh giới bao quanh toàn bộ ngôi nhà bằng hàng rào và nuôi chó để bảo vệ, giữ nhà. Thời gian từ ngày 15 đến 16-01-2023 bị cáo có mặt ở nhà, không đi đâu, chỉ đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16-01-2023 bị cáo chạy xe Airblade ra đường thì bị Công an kiểm tra, lập biên bản.

Tuy nhiên khi trình chiếu các đoạn video, không có 02 người thanh niên nào tới nhà bị cáo vào khoảng thời gian từ 09 giờ đến 10 giờ 30 phút ngày 16-01-2023. Và bị cáo cũng không xác định được những người ra, vào nhà bị cáo vào lúc 19 giờ 27 phút 51 giây và 20 giờ 23 phút 19 giây ngày 15-01-2023; 03 giờ 23 phút và 03 giờ 24 phút ngày 16-01-2023. Mặc dù các khoảng thời gian này bị cáo khai đều có mặt tại nhà.

[2.4] Bị cáo khai: chỉ nhận của 02 người thanh niên tới câm cố tài sản là 01 xe mô tô Airblade và 01 giấy đăng ký xe tên Trần Quốc L, ngoài ra không còn giữ giấy tờ hay vật dụng nào khác từ 02 người thanh niên tới câm cố xe mô tô. Nhưng khi khám xét người và tạm giữ tài liệu, đồ vật của bị cáo lúc 20 giờ 45 phút ngày 16-01-2023 ngoài các giấy tờ và tài sản của bị cáo C còn có 01 ví da màu nâu ghi chữ Levi's 501 và 01 căn cước công dân của ông Trân Quốc L.

[2.5] Từ các nhận định trên cùng lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào rạng sáng ngày 16-01-2023, tại nhà ông Trần Quốc L, ở khu phố A, phường P, thành phố P-T, Trần C đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô biển số 85B1-002.86, nhãn hiệu Honda – Airblade, màu đen bạc và 01 ví da màu nâu có ký hiệu Levi's – 501 của ông L với tổng trị giá là 10.545.000 đồng.

Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điêu 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 26/CT-VKSPRTC ngày 17-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo Trần C là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đây đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng do mục đích tư lợi nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyên sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do bị cáo có cha là người có công cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu nhưng vẫn không thay đổi bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên toà đều quanh co chối tội nên cần thiết phải có mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[6] Trong vụ án này, bị cáo Trần C có đồng phạm cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản và không xác định được nhân thân, lai lịch của người tham gia thực hiện hành vi phạm tội cùng bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 bình xịt sơn màu bạc, nhãn hiệu Win mà Trần C sử dụng các bình xịt sơn này xịt lên biển số xe 85B1-002.86 để làm mờ biển số xe và 01 ổ khóa khắc chữ “VIỆT-TIỆP”, kích thước (9,5x5,6)cm là ổ khóa cửa nhà anh Trần Quốc L bị cậy phá. Ổ khóa không còn giá trị sử dụng. Ông L không yêu cầu nhận lại không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu thiêu huỷ.

Đối với 02 kìm cộng lực màu xanh trong đó 01 kìm cộng lực 18 in; 01 kìm cộng lực 36 in; 01 thanh kim loại dài 01m đã đập dẹp một đầu; 01 thanh kim loại dài 47cm đập dẹp 02 đầu, 01 đầu được bẻ cong; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu đen. Do bị cáo Trần C không thừa nhận và các Kết luận giám định cũng không xác định được bị cáo Trần C sử dụng các công cụ trên làm phương tiện phạm tội, không đủ cơ sở để tịch thu tiêu huỷ hay sung Ngân sách Nhà nước nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Trần Cảm .

Đối với 02 USB chứa hình ảnh trong Camera an ninh gắn tại đoạn đường P, thuộc khu phố E, phường P, thành phố P-T và 02 đĩa DVD ghi âm, ghi hình khi hỏi cung Trần C cần lưu trữ cùng hồ sơ vụ án.

Đối với 01 xe mô tô biển số 85B1-002.86, nhãn hiệu Honda – Airblade, màu đen bạc; 01 ví da màu nâu, kích thước 11x9,5cm, mặt ví có ghi chữ Levi's-501; 01 đăng ký mô tô, 01 căn cước công dân mang tên Trần Quốc L, đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Quốc L là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh loại bàn phím số; 01 điện thoại cảm ứng màu xanh đen hiệu Vivo, một vỏ ốp nhựa màu trắng trong; 01 căn cước công dân mang tên Trần C, 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần C; 01 thẻ ATM A2 màu đỏ; 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng, 02 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng; 02 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng; 03 tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng; 01 tờ tiền giấy mệnh giá 500 đồng; 01 tờ tiền ngoại tệ NIPPON GINKO mệnh giá 1000; 01 tờ tiền ngoại tệ màu xanh mệnh giá 50, 01 tờ tiền ngoại tệ B mệnh giá 01, 01 tờ tiền ngoại tệ màu cam mệnh giá 5000, 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 2 dollarrs, 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 5 dollarrs; 01 phiếu cầm đồ tại tiệm C2 mang tên Trần C; 01 phiếu cầm đồ của tiệm K1; 01 tờ giấy của tiệm V1 Cho; 01 đôi tất bằng vải màu xanh; 01 đôi găng tay bằng vải len màu đen; 01 đôi găng tay bằng chất liệu da, màu đen; 01 bịt mặt màu xanh; 01 thẻ nhớ nhãn hiệu DSS, 32Gb không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho Trần C là phù hợp.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Huỳnh Thị Hồng A cơ quan điều tra đã trả lại cho cho bà Huỳnh Thị Hồng A là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Trần Quốc L đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điêu 173; khoản 2 Điêu 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần C 30 (ba mươi) tháng tù nhưng khấu trừ 01 (một) ngày tạm giữ ngày 17-01-2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 13-11-2024.

Căn cứ: Điêu 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điêu 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu huỷ: 02 bình xịt sơn màu bạc, nhãn hiệu Win và 01 ổ khóa khắc chữ “VIỆT-TIỆP”, kích thước (9,5x5,6)cm.

Trả lại cho bị cáo Trần C: 02 kìm cộng lực màu xanh trong đó 01 kìm cộng lực 18 in; 01 kìm cộng lực 36 in; 01 thanh kim loại dài 01m đã đập dẹp một đầu; 01 thanh kim loại dài 47cm đập dẹp 02 đầu, 01 đầu được bẻ cong; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu đen.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19-02-2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P – T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T).

Căn cứ: Điêu 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điêu 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí: Bị cáo Trần C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyên kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Phân trại tạm giam;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - UBND phường Phước Mỹ, TP. PR-TC;
  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - Lưu án văn, hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần C phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger