Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG ẢNG

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HS-ST

Ngày: 17-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Phong

Các hội thẩm nhân dân

Ông Lò Văn Đoàn

Ông Lưu Tuấn Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Ngọc Tùng Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2025/TLST-HS ngày 20/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lò Văn N; Sinh ngày 28/5/1990; Tại huyện MA, tỉnh ĐB; Nơi đăng ký thường trú: Bản B, xã BL, huyện MA tỉnh ĐB; Nơi sinh sống: Bản B, xã BL, huyện MA, tỉnh ĐB; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn Đ và bà Lò Thị T; Bị cáo có vợ là Lò Thị C và có 01 người con sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: 11/5/2016 bị Toà án nhân dân huyện MA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 12 tháng (đã được xoá tiền sự); Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 27/11/2024 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 27/11/2024 Lò Văn N đi bộ một mình từ nhà tại Bản B, xã BL, huyện MA, tỉnh ĐB ra đường để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đang trên đoạn đường thuộc Bản B, xã BL, N đã hỏi và mua được 05 viên Methamphetamine được gói bằng mảnh nilon màu hồng của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết với giá tiền là 150.000 đồng. Mục đích N mua Methamphetmine là để sử dụng cho bản thân vì nghiện ma tuý. Sau khi mua được Methamphetamine, N giấu vào túi quần bên phải đang mặc và đi bộ về nhà. Đến 17 giờ 55 phút cùng ngày khi N đang trên đường về thuộc Bản B, xã BL thì gặp tổ công tác Công an xã Búng Lao đang làm nhiệm vụ, qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ tại túi quần bên phải của N 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 05 viên Methamphetamine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.

Ngày 27/11//2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, niêm phong vật chứng và ra quyết định trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 1797/KL-KTHS ngày 03/012/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn N có khối lượng 0,47 gam các viên nén màu hồng là chất ma tuý: Loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định, có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Bản cáo trạng số: 26/CT-VKS-MA ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố Lò Văn N để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu hồng 01 phong bì công văn niêm phong ban đầu; Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhất trí bản luận tội của Viện Kiểm sát và không tranh luận gì thêm. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Tại phiên tòa bị cáo khai vào ngày 27/11/2024 bị cáo mua được 0,47 gam Methamphetamine với giá tiền 150.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết ở khu vực đường thuộc Bản B, xã BL, huyện MA, tỉnh ĐB. Mục đích bị cáo mua Methamphetamine là để sử dụng cho bản thân vì nghiện ma tuý. Sau khi mua được Methamphetamine, bị cáo mang về nhà, trên đường về thì bị phát hiện, bắt giữ. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định: Lò Văn N đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,47 gam Methamphetamine. Hành vi tàng trữ trái phép 0,47 gam Methamphetammine nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện MA, tỉnh ĐB truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2016 bị Toà án nhân dân huyện Mường Ảng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 12 tháng (đã được xoá tiền sự). Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt đối với bị cáo:

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại điện viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi hạm tội của bị cáo. Do đó cần chấp nhận, xử phạt bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm.

Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, không có tài sản gì có giá trị (Biên bản xác minh tài sản, thu nhập ngày 05/12/2024 tại bút lục số 80) Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,47 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo, sau giám định còn lại 0,36 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mảnh nilon màu hồng, 01 phong bì niêm phong vật chứng là vật để cất giấu vật chứng không có giá trị nên căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Ảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, giam là ngày 27/11/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình Sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 0,36 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 phong bì niêm phong vật chứng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa Công an huyện MA và Chi cục Thi hành án dân sự huyện MA.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình Sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/3/2025).

Nơi nhận:

  • - Phòng Thanh tra, KT và THA (TA tỉnh);
  • - VKSND huyện Mường Ảng;
  • - VKSND tỉnh ĐB;
  • - Cơ quan ĐT Công an tỉnh Điện Biên;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA.T Điện Biên;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Mường Ảng;
  • - Bị cáo;
  • - THADS huyện Mường Ảng;
  • - Phòng Hành chính Sở Tư pháp;
  • - Lưu HS, HSTHA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Hoàng Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ngày 27/11/2024 Lò Văn N mua được 0,47 gam Methamphetamine với giá tiền 150.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết ở khu vực đường thuộc bản B, xã BL, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Mục đích mua Methamphetamine là để sử dụng cho bản thân vì nghiện ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger