Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HS-ST

Ngày 05 -3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bạn và ông Nguyễn Tiến Dũng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Thắm - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2025/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Kim A; Giới tính: Nữ.Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 17/11/1983; Tại: Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Số H L, Tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ học vấn: 12/12;

Họ và tên cha: Nguyễn Văn C (Đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị Kim H; Chồng: Cao Kim T, có 02 con nhỏ, sinh năm lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2024 cho đến nay – Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Dương Thị S.

Nơi cư trú: Số H L, Tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Kim A, là chủ Lớp mầm non tư thục Hoa Hướng D, địa chỉ: Số B đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, theo Quyết định cho phép thành lập Lớp mầm non tư thục số 87/QĐ-UBND, ngày 14/5/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B và Quyết định về việc cho phép hoạt động giáo dục số 59/QĐ-PGD&ĐT, ngày 18/5/2018 của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Khoảng giữa năm 2022, do L mầm non cần tuyển thêm bảo mẫu, nhưng chưa tuyển được mà em dâu của Kim A là Dương Thị S, chưa có việc làm nên Kim A ngỏ ý muốn tuyển Sao vào làm bảo mẫu. Nhưng vì Dương Thị S mới chỉ tốt nghiệp trung học phổ thông và chưa đi học thêm bằng cấp, chứng chỉ giáo dục mầm non. Trong thời gian này, nhận thấy Sao có nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc trẻ vì đang có 02 con nhỏ nên Kim A thường hay nhờ Sao đến lớp để phụ giúp các công việc dọn dẹp, chăm sóc trẻ.

Đến đầu tháng 9/2023, Kim A muốn hợp thức hóa hồ sơ công tác của Sao nhằm đối phó khi có sự kiểm tra của các cơ quan chức năng nên Kim A đã tự lên mạng xã hội Facebook, tìm từ khóa “Chứng chỉ bồi dưỡng bảo mẫu cấp dưỡng mầm non”. Kim A tự liên hệ với tài khoản Facebook tên “Phạm M” (chưa xác định nhân thân lai lịch) và nhắn tin hỏi có mở các lớp bồi dưỡng, bảo mẫu không thì người này cung cấp thông tin chứng chỉ cho bảo mẫu giá 1.600.000 đồng trên một khóa học thì Kim A đồng ý và đăng ký tham gia một khóa bồi dưỡng bảo mẫu. M nói Kim A kết bạn Zalo để gửi thông tin người cần học gồm hình căn cước công dân và hình thẻ để cấp chứng chỉ. Sau đó, Kim A nói Sao cung cấp hình chụp hai mặt căn cước công dân và hình thẻ của Sao, rồi Kim A gửi qua Z cho M. Sau đó, M hẹn với Kim A sẽ gửi chứng chỉ về cho Kim A qua đường bưu điện theo thông tin địa chỉ của Kim A cung cấp. Đến ngày 02/10/2023, Kim A được nhân viên bưu điện giao một bưu kiện bên trong có một Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ bảo mẫu của Trường Trung cấp Bến Thành - thành phố H (ghi cấp cho Dương Thị S, sinh ngày: 11/08/1997, nơi sinh: Đắk Lắk, số hiệu: CB001475, số vào số cấp chứng chỉ: 42QĐ-TCBT.0074, do Phó Hiệu trưởng Nguyễn Quang T1 ký cấp vào ngày 05/07/2022) và trả tiền mặt số tiền thu hộ là 1.600.000 đồng. Lúc này, Kim A thấy thời gian cấp được ghi trong Chứng chỉ là vào năm 2022 nhưng Kim A chỉ mới đăng ký lớp bồi dưỡng bảo mẫu được khoảng 01 tháng, nên biết được đây là Chứng chỉ giả. Tuy nhiên, do đang cần Chứng chỉ này nên Kim A vẫn photocopy và mang đi chứng thực tại Ủy ban nhân dân Phường T, thành phố B vào ngày 04/10/2023 thành 03 bản rồi tự lấy 01 bản để đưa vào hồ sơ công tác của Sao tại lớp mầm non, còn lại 01 bản gốc và 02 bản photo chứng thực thì Kim A đưa cho S cất giữ nhưng không nói cho Sao biết nguồn gốc của chứng chỉ trên. Sau đó, Kim A nói Sao đi làm chính thức tại lớp mầm non, phụ giúp các giáo viên cho trẻ ăn uống, chăm sóc và dẫn các cháu ra, vào lớp học khi được các phụ huynh đưa đến, đồng thời phụ giúp các nhân viên dọn dẹp và nấu ăn hàng ngày mà chưa lập hợp đồng lao động. Đến ngày 12/10/2023, Kim A và Sao được Phòng An ninh Chính trị nội bộ (PA03) - Công an tỉnh Đ mời lên làm việc có liên quan đến Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ bảo mẫu không hợp pháp, Sao đã tự nguyện giao nộp một Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ bảo mẫu bản gốc có thông tin nêu trên. Sau buổi làm việc, Sao và Kim A đã hủy bỏ 03 bản photo chứng thực còn lại đang cất giữ. Quá trình làm việc tại Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Nguyễn Thị Kim A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Làm việc tại Trường T, địa chỉ: Số I - I đường L, phường A, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh, bà Trương Mai K - Trưởng phòng Đào tạo cung cấp thông tin: Trường T không có học viên nào có thông tin là “Dương Thị S, sinh ngày: 11/08/1997, nơi sinh: Đắk Lắk” và cũng không cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ bảo mẫu cho học viên nào có thông tin nêu trên. Đối với “số hiệu: CB001475” và “số vào số cấp chứng chỉ: 42QĐ-TCBT.0074” không tồn tại trong dữ liệu thông tin của Trường T.

Tại Bản kết luận giám định số: 652/KL-KTHS ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Phòng K1, Công an tỉnh Đ kết luận:

“1. Chữ ký mang tên Nguyễn Quang T1 trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với chữ ký mang tên Nguyễn Quang T1 trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1 là không cùng một người ký ra.

2. Hình dấu tròn có nội dung “TRƯỜNG TRUNG CẤP BẾN THÀNH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với hình dấu có nội dung “TRƯỜNG TRUNG CẤP BẾN THÀNH SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M2 là không cùng một phương pháp tạo ra.

3. Phôi Chứng chỉ bồi dưỡng, số hiệu CB001475, cấp cho Dương Thị S, đề Trường T cấp ngày 05 tháng 7 năm 2022 (kí hiệu A1) so với phôi Chứng chỉ bồi dưỡng (kí hiệu M3) là không cùng một loại phôi”.

Tại Bản kết luận giám định số: 1904/KL-KTHS ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Phòng K1, Công an tỉnh Đ kết luận: Không tìm thấy tin nhắn M1 (Facebook), tin nhắn Zalo trong điện thoại di động gửi giám định, thời gian từ ngày 01/8/2023 đến ngày 15/10/2023.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS-TP.BMT ngày 05/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim A về tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341; Các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim A 06- 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12- 18 tháng tù.

* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Đối với 01 (một) Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ bảo mẫu có thông tin nêu trên là tài liệu được Nguyễn Thị Kim A đặt làm giả nhằm mục đích sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, là vật chứng của vụ án đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động có đặc điểm nêu trên là tài sản của Nguyễn Thị Kim A, Kim A sử dụng để liên lạc với người dùng tài khoản Facebook tên “Phạm M”, là công cụ thực hiện hành vi phạm tội cần đề nghị tịch thu, sung Công quỹ Nhà nước.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm S1 đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Thị Kim A đã lên mạng xã hội facebook đặt làm giả 01 Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ bảo mẫu, ghi cấp cho Dương Thị S, sinh ngày: 11/08/1997, nơi sinh: Đắk Lắk, số hiệu: CB001475, số vào sổ cấp chứng chỉ: 42QĐ-TCBT.0074, do Phó Hiệu trưởng Trường T ký, đóng dấu vào ngày: 05/07/2022. Sau đó, Nguyễn Thị Kim A đã sử dụng chứng chỉ bồi dưỡng giả bổ sung vào hồ sơ nhân sự của Dương Thị S tại Lớp mầm non tư thục Hoa H, thì bị phát hiện, xử lý. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Kim A, đã phạm vào tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

*Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm”.

[3]. Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Thị Kim A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn về ngành giáo dục Mầm Non tại Trường Cao Đẳng S2, là chủ lớp Mầm Non tư thục Hoa Hướng D. Bị cáo phải biết rõ quy trình được cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Bảo mẫu theo quy định của pháp luật nhưng do ý thức coi thường pháp luật, nhận thức rõ hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để hợp thức hóa hồ sơ tuyển dụng là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng .Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Xét thấy bị cáo là giáo viên có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình bị cáo, giáo dục cho bị cáo sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[4]. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Đối với 01 (một) Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ bảo mẫu có thông tin: Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ bảo mẫu, ghi cấp cho Dương Thị S, sinh ngày: 11/08/1997, nơi sinh: Đắk Lắk, số hiệu: CB001475, số vào sổ cấp chứng chỉ: 42QĐ-TCBT.0074, do Phó Hiệu trưởng Trường T ký, đóng dấu vào ngày: 05/07/2022 là vật chứng của vụ án nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung M32, màu xanh, số Imei: 359093386153086, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Kim A, sử dụng để liên lạc với người dùng tài khoản Facebook tên “Phạm M”, là công cụ thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước.

[5]. Về hành vi khác: Đối với chị Dương Thị S, khi bị cáo A sử dụng hình ảnh căn cước công dân và hình thẻ của Sao để đăng ký làm Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trên mạng xã hội, không thông báo cho Dương Thị S biết. Sau khi chứng thực Chứng chỉ mầm non giả nộp vào hồ sơ nhân sự của Sao, Kim A đưa bản gốc và 02 bản photocopy chứng thực cho Dương Thị S cất giữ, Kim A không nói với Sao nguồn gốc chứng chỉ nêu trên, Dương Thị S không kiểm tra các tài liệu trên mà đem cất giữ, không sử dụng đến. Do đó, hành vi của Dương Thị S không đồng phạm với bị cáo Nguyễn Thị Kim A về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý đối với Dương Thị S là phù hợp.

Đối với người tên “Phạm M” mà bị cáo Nguyễn Thị Kim A khai đặt làm giả Chứng chỉ, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa triệu tập làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ, xử lý sau, là phù hợp.

[6].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 341 Bộ luật hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim A phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

    Áp dụng khoản 1 Điều 341; Các điểm i, s khoản 1,Điều 51; Khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim A 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18(mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Trong thời gian thử thách giao bị cáo Nguyễn Thị Kim A cho UNBD phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung M32, màu xanh, số I: 359093386153086, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị Kim A.

    Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ bảo mẫu, ghi cấp cho Dương Thị S, sinh ngày: 11/08/1997, nơi sinh: Đắk Lắk, số hiệu: CB001475, số vào sổ cấp chứng chỉ: 42QĐ-TCBT.0074, do Phó Hiệu trưởng Trường T ký, đóng dấu vào ngày: 05/07/2022.

    Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/02/2025 giữa Công an T với Chi cục Thi hành án dân sự Tp.Buôn Ma T2. Hiện vật chứng đang được lữu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma T2).

  3. Về hành vi khác: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý đối với Dương Thị S, không đồng phạm với bị cáo Nguyễn Thị Kim A về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

    Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ, xử lý sau đối với người tên “Phạm Mai” do chưa xác định được nhân thân lai lịch.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Nguyễn Thị Kim A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TANDTC
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ
  • công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột;
  • - Công an Tp. Buôn Ma Thuột;
  • - Chi cục THA DS Tp. BMT;
  • - Chánh án TAND Tp. BMT;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Thị Kim Anh phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger