Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49 /2025/HS-ST

Ngày: 03/03/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thanh Phương
  2. Bà Lê Thị Kim Xuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo là thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: ông Vũ Đình Tứ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn T

(Tên gọi khác: Không), S năm 1991 tại tỉnh Trà Vinh.

Nơi cư trú: Ấp G, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Thị C, số B, đường N, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 7/12.

Con ông Trần Thanh T1 và bà Lâm Thị T2.

Bị cáo có vợ tên Ngô Thị Bé H và có 01 con sinh năm 2024

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được tại ngoại điều tra (Bị cáo có mặt)

Người đại diện cho người bị hại ông Trương Thành P, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: Khu D, Ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Người liên quan: Ông Lưu Văn M, sinh năm 1987 (vắng mặt)

1

Địa chỉ: 1, đường số C, phường L, Tp T, Tp Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 04 giờ 40 phút, ngày 12/6/2024, Trần Văn T điều khiển xe ô tô biển số 51D – 362.04 (có giấy phép lái xe theo quy định) lưu thông trên đường L theo hướng từ xã Đ đi xã V, huyện N. Khi đi đến Km32 + 900m đường H thuộc ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, T điều khiển xe lấn vào phần mép cống thoát nước bên phải đường đụng vào bà Lê Thị T3, sinh năm 1956, ngụ tại ấp P, xã Đ, huyện N đang đi bộ trong lề bên phải đường. Tai nạn xảy ra, bà T3 bị thương tích được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện L, thành phố T. Đến ngày 28/6/2024, bà T3 tử vong do sốc đa chấn thương.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ghi nhận:

  • Điều kiện thời tiết: trời tối, không mưa.
  • Tình trạng hiện trường: Hiện trường không còn nguyên vẹn do bị xáo trộn trong lúc người dân đưa nạn nhân đi cấp cứu và tại hiện trường có nhiều phương tiện lưu thông qua lại.
  • Hiện trường là đoạn đường thẳng, trải nhựa bằng phẳng được chia làm hai chiều đường xe chạy bằng vạch sơn không liên tục, mỗi chiều 3,5m. Bề rộng mặt đường là 07m, mỗi bên chiều đường có dải đất dự trữ rộng 01m. Ngay trước điểm xảy ra tai nạn giao thông theo hướng lưu thông của xe ô tô tải BKS: 51D- 362.04 có vạch kẻ giảm tốc đối với các phương tiện lưu thông.
  • Điểm mốc hiện trường là trụ điện số 08 nằm ngoài lề đường bên phải theo hướng lưu thông từ xã Đ đi xã V, huyện N.

Chọn mép chuẩn hiện trường là mép đường bên phải theo hướng lưu thông từ xã Đ đi xã V, huyện N và mép chuẩn đo vẽ của hiện trường là mép đường bên phải làn đường.

Sau tai nạn giao thông các dấu vết để lại cụ thể như sau:

  • Xe ô tô tải BKS: 51D-362.04 được ký hiệu là (1): Sau tai nạn, xe nằm ở tư thế đậu nằm gần trọn trên phần đất dự trữ, bên ngoài mép đường chuẩn đầu tâm trực bánh trước, bên phải đo vuông góc đến trình chiếu mép chuẩn là 1,1m. Đầu tâm trục bánh sau bên phải đo vuông góc đến trình chiếu mép chuẩn là 0,9m, đo đến điểm gần nhất của điểm mốc là 10,7m.
  • Vết lốp ô tô tải BKS: 51D-362.04 được ký hiệu là (2): Vết lốp (2) do lốp bánh sau bên phải do xe ô tô tải BKS: 51D-362.04 (1) tạo ra với mặt của phần đường dự trữ bên ngoài mép chuẩn dài 4,3m. Điểm đầu đo vuông góc đến mép chuẩn là 01m. Điểm cuối là vị trí tiếp xúc của lốp bánh sau bên phải xe ô tô tải BKS: 51D-362.04 (1) và phần đất dự trữ.
  • Vết máu 0,3m x 1,5m được ký hiệu là (3): Nằm kéo dài từ mặt đường vào dưới gầm xe ô tô tải BKS: 51D-362.04 (1) điểm trung tâm vết máu cách mép chuẩn là 0,7m, cách đầu tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô tải BKS: 51D-362.04 (1) là 1,2m.

2

Kết quả khám nghiệm phương tiện ghi nhận:

Xe ô tô tải BKS: 51D-362.04 để lại các dấu vết như sau:

  • Tại vị trí kính chắn gió phía trước bên trái phương tiện xuất hiện nhiều vết nứt kính trên bề mặt kích thước 89cm x 68cm.
  • Tại vị trí ốp kim loại màu trắng phía trước ở giữa phương tiện bị bóp méo theo chiều hướng từ ngoài vào trong, kích thước 39 cm x 50 cm.
  • Tại vị trí ốp đèn xi nhan trái phía trước của phương tiện có vết mài mòn nhựa, màu trắng, kích thước 03 cm x 02 cm. (Bút lục: 46-49).

Tại bản kết luận giám định pháp y số 2198/KL-KTHS ngày 04/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận nguyên nhân dẫn đến bà Lê Thị T3 tử vong là sốc đa chấn thương:

  • Chấn thương sọ não và hàm mặt, gãy xương gò má, gãy xương bướm, tụ máu ngoài màng cứng, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết dưới nhện.
  • Chấn thương ngực kín, gãy đa xương sườn, gãy xương ức, gãy xương bã vai trái, tràn khí màng phổi.
  • Chấn thương vùng chậu, gãy xương mu, gãy xương cùng.
  • Gãy xương đùi phải, gãy xương cẳng chân phải, vết thương lóc da bàn chân phải.

Kết quả xét nghiệm ma tuý: Trần Văn T âm tính với ma tuý.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe ô tô tải thùng biển số 51D – 362.04; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải thùng biển số 51D – 362.04; 01 bảo hiểm tự nguyện xe ô tô tải thùng biển số 51D - 362.04; 01 giấy đăng kiểm xe ô tô tải thùng biển số 51D – 362.04 đã trả cho chủ sở hữu là ông Lưu Văn M.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố, và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 14 tháng đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về xử lý vật chứng:

01 xe ô tô tải thùng biển số 51D – 362.04; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải thùng biển số 51D – 362.04; 01 bảo hiểm tự nguyện xe ô tô tải thùng biển số 51D-362.04; 01 giấy đăng kiểm xe ô tô tải thùng biển số 51D – 362.04 đã trả cho chủ sở hữu là ông Lưu Văn M.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã bồi thường số tiền 230.000.000 đồng cho gia đình bị hại Thôi. Gia đình bị hại T3 đã làm đơn bãi nại và cam kết không thắc mắc khiếu nại về sau.

3

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.

Bị cáo không có ý kiến gì đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Người liên quan ông Lưu Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Trong hồ sơ vụ án ông M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác trong vụ án. Do đó, việc vắng mặt người liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận: Vào 04 giờ 40 phút, ngày 12/6/2024, tại Km32 + 900m đường H thuộc ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Trần Văn T điều khiển xe ô tô biển số 51D – 362.04 (có giấy phép lái xe theo quy định) đi không đúng phần đường quy định, không chấp hành biển báo giao thông đường bộ nên đã xảy va chạm với bà Lê Thị T3 đang đi bộ bên phải đường, làm bà T3 bị thương nặng dẫn đến tử vong. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hành vi của bị cáo Trần văn T điều khiển phương tiện tham gia giao thông không đúng quy định gây tai nạn làm bị hại bà Lê Thị T3 bị thương nặng dẫn đến tử vong, hậu quả chết người xảy ra ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Như vậy, cáo trạng số 61/CT.VKS ngày 05/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “ Vi phạm

4

quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Dù không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng hành vi của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến cái chết của bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại và người đại diện bị hại có đơn xin bãi nại, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo còn có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu lỗi xảy ra ngoài ý muốn của bị cáo. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ mới sinh nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy lỗi của bị cáo là lỗi vô ý, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Trong thời gian tại ngoại không vi phạm gì cho thấy bị cáo tự cải tạo bản thân tốt và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phạt tù giam bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục làm việc, cải tạo bản thân, sửa chữa sai lầm và cũng để giúp cho bị cáo thấy rõ được tính nhân đạo, khoan hồng của chính sách pháp luật hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo, khuyến khích bị cáo tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ của gia đình và xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật TTHS:

Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N đã trả lại (01 xe ô tô tải thùng biển số 51D – 362.04; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải thùng biển số 51D – 362.04; 01 bảo hiểm tự nguyện xe ô tô tải thùng biển số 51D – 362.04; 01 giấy đăng kiểm xe ô tô tải thùng biển số 51D – 362.04) cho chủ sở hữu là ông Lưu Văn M là đúng quy định.

5

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã bồi thường số tiền 230.000.000 đồng cho gia đình bị hại Thôi. Gia đình bị hại T3 đã làm đơn bãi nại và cam kết không thắc mắc khiếu nại về sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ; điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 01/2022 /NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, nơi bị cáo hiện đang sinh sống giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở đi, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

6

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Chi cục THA dân sự H. Nhơn Trạch;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Oanh

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo vi phạm quy định về điều khiển phương thiện giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger