|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HS-ST
Ngày: 26 - 02 - 2025
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Hùng và ông Tạ Văn Đài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Hoàng Phát C, sinh năm 1974 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. HKTT: Ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Cư trú tại: Đường T, khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 02/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. Con ông Hoàng Văn T (còn sống) và bà Vày Thị M (đã chết). Có vợ là bà Đỗ Thị G và có 03 người con.
- - Tiền án: Không có.
- - Tiền sự: Không có.
Bị cáo được tại ngoại điều tra.
-
Họ và tên: Cao Bình A, sinh năm 1988 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. HKTT: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Cư trú tại: khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Trình độ học vấn: 08/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Cao Văn T1 (đã chết) và bà Huỳnh Thị L (còn sống). Có vợ là bà Trần Thị N và có 01 người con.
- - Tiền án: Không có.
- - Tiền sự: Không có.
Bị cáo được tại ngoại điều tra.
- Bị hại: Anh Tô Văn T2, sinh năm 1984. Cư trú tại: Số D đường T, khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
- + Chị Phạm Thị C1, sinh năm 1983.
- + Chị Đỗ Thị G, sinh năm 1975.
(Các bị cáo có mặt còn lại đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Hoàng Phát C và anh Tô Văn T2 cùng cư trú tại đường T, khu phố D, thị trấn Trảng Bom, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nhà đối diện nhau). Khoảng 02 năm nay, giữa anh Tô Văn T2 và Hoàng Phát C xảy ra mâu thuẫn do anh T2 hay chửi bới, gây ồn ào hàng xóm. Vào khoảng 21 giờ ngày 17/02/2024, anh T2 ngồi tại phòng khách nhà mình và nói đổng “mấy con chó chui gầm chạn chết mẹ đi sống chi cho nhục”. Lúc này, C đang ở nhà, nghe anh T2 nói như vậy thì cho rằng anh T2 chửi mình nên C gọi điện thoại cho Cao Bình A (là cháu vợ và ở gần nhà C). C nói A cùng đi đến nhà anh T2 để làm rõ lí do vì sao anh T2 chửi C.
C và A qua nhà anh T2 nói chuyện rồi xảy ra cãi vã, thách thức lẫn nhau; anh T2 chạy xuống sau nhà cầm lấy con dao kích thước dài 08cm x 30cm đi lên. A và C chạy về nhà C để A cầm 01 cây gậy tre dài 50 cm và C cầm 01 con dao phát, cán dao bằng tre dài khoảng 1m đi đến nhà anh T2. Nghĩ anh T2 sẽ chém mình nên A cầm gậy tre đánh anh T2 thì anh T2 cầm dao đưa lên đỡ thì bị đánh rớt dao xuống đất. Lúc này, C cầm dao chém trúng tay phải gây thương tích cho anh T2. Sau đó, A bỏ chạy thì anh T2 đuổi đánh C, C chạy về nhà và được mọi người can ngăn nên anh T2 đi về nhà và được đưa đến bệnh viện Đ, tỉnh Đồng Nai điều trị thương tích.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) cây gậy tre dài 50 cm và 01 (một) con dao phát, cán dao bằng tre dài khoảng 1m là hung khí Hoàng Phát C và Cao Bình A sử dụng vào việc phạm tội; 01 (một) con dao kích thước dài 08cm x 30cm của anh Tô Văn T2.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0275/KLTTCT-TTPYĐN ngày 02/4/2024 của Trung tâm Pháp y – Sở y tế tỉnh Đ kết luận như sau:
“1. Các kết qua chính:
- Sẹo gan bàn ngón II bàn tay phải kích thước 13x0,2cm. Tỷ lệ: 02%;
- Sẹo mổ mặt trước cổ - gan bàn tay phải kích thước 04x0,2cm. Tỷ lệ: 01%;
- Sẹo xuyên đinh kirschner ngón tay I tay phải kích thước 0,5x0,5cm. Tỷ lệ: 01%;
- Tổn thương thần kinh riêng ngón 1-2 bàn tay phải (nhánh thần kinh giữa) đoạn bàn tay phải. Tỷ lệ: 11%;
- Gãy chỏm xương bàn tay I-II bàn tay phải. Tỷ lệ: 10%;
- Gẫy nền đốt 1 ngón II bàn tay phải. Tỷ lệ: 02%.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/T-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tô Văn T2 – 1984 tại thời điểm giám định là 25% (Hai mươi lăm phần trăm).
3. Kết luận khác: Vật gây thương tích là: Vật sắc."
Về dân sự: Hoàng Phát C và Cao Bình A đã tự nguyện bồi thường cho anh Tô Văn T2 với tổng số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Anh Tô Văn T2 đã nhận tiền và có đơn bãi nại, cam kết không thắc mắc khiếu nại về phần dân sự.
Tại bản Cáo trạng số: 25/CT/VKS-TB ngày 31 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Hoàng Phát C và Cao Bình A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- + Tuyên bố các bị cáo Hoàng Phát C và Cao Bình A phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- + Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
- + Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng chế định án treo đối với các bị cáo cũng đủ để cải tạo, giáo dục, răn đe. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt:
- Bị cáo Hoàng Phát C mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án.
- Bị cáo Cao Bình A mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm kể từ ngày tuyên án.
- + Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) cây gậy tre dài 50 cm và 01 (một) con dao phát, cán dao bằng tre dài khoảng 1m là hung khí các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) con dao kích thước dài 08cm x 30cm là tài sản của anh Tô Văn T2, không sử dụng vào việc gây thương tích nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã trả lại cho anh T2.
- + Về biện pháp tư pháp/ bồi thường thiệt hại: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- + Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng số: 25/CT/VKS-TB ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0275/KLTTCT-TTPYĐN ngày 02/4/2024 của Trung tâm P – Sở y tế tỉnh Đ; lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 17/02/2024 tại khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, do có mâu thuẫn từ trước nên Hoàng Phát C và Cao Bình A đã sử dụng 01 cây gậy tre dài 50 cm và 01 con dao phát, cán dao bằng tre dài khoảng 1m (là hung khí nguy hiểm) đánh, chém vào tay phải của anh Tô Văn T2, gây thương tích cho anh T2 với tỷ lệ thương tật là 25%.
Hành vi nêu trên của Hoàng Phát C và Cao Bình A đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
-
[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của anh Tô Văn T2 được pháp luật công nhận và bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời còn răn đe và phòng ngừa chung.
Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nhưng chỉ ở mức độ đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, bàn bạc cụ thể. Trong đó, bị cáo Hoàng Phát C là người rủ rê và cùng thực hiện hành vi phạm tội nên có vai trò cao hơn so với bị cáo Cao Bình A.
- [3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tích cực bồi thường khắc phục hậu quả; Bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; mặt khác bị hại cũng có phần lỗi vì đã có những lời lẽ khiếm nhã xúc phạm đến bị cáo Hoàng Phát C. Các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn có xác nhận của địa phương nơi cư trú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
- [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
-
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) cây gậy tre dài 50 cm và 01 (một) con dao phát, cán dao bằng tre dài khoảng 1m là hung khí các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) con dao kích thước dài 08cm x 30cm là tài sản của anh Tô Văn T2, không sử dụng vào việc gây thương tích nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại cho anh T2 là phù hợp quy định của pháp luật.
- [6] Về biện pháp tư pháp/Bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận tiền bồi thường và cam kết không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- [7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử vì các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, hiện đang là lao động chính trong gia đình nên áp dụng chế định án treo đối với các bị cáo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 23/3/2022 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
- [8] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.
- [9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 23/3/2022 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
- 1.1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Phát C và Cao Bình A phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích”.
- 1.2. Xử phạt bị cáo Hoàng Phát C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/02/2025).
- 1.3. Xử phạt bị cáo Cao Bình A 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/02/2025).
- 1.4. Giao các bị cáo Hoàng Phát C và Cao Bình A cho UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92, Điều 68 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng chế độ án treo cố ý vi phạm 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây gậy tre dài khoảng 50 cm và 01 (một) con dao phát, cán dao bằng tre dài khoảng 1m (đã qua sử dụng)
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).
- 3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Hoàng Phát C và Cao Bình A mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- 4. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày; người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Duy Mạnh |
6
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng số: 25/CT/VKS-TB ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0275/KLTTCT-TTPYĐN ngày 02/4/2024 của Trung tâm Pháp y – Sở y tế tỉnh Đồng Nai; lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 17/02/2024 tại khu phố 4, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, do có mâu thuẫn từ trước nên Hoàng Phát Cường và Cao Bình An đã sử dụng 01 cây gậy tre dài 50 cm và 01 con dao phát, cán dao bằng tre dài khoảng 1m (là hung khí nguy hiểm) đánh, chém vào tay phải của anh Tô Văn Toàn, gây thương tích cho anh Toàn với tỷ lệ thương tật là 25%. Hành vi nêu trên của Hoàng Phát Cường và Cao Bình An đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
