Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/DS-PT

Ngày 12-02-2025

V/v tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang

Bà Hoàng Thị Hải Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 461/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 406/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc S, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khóm G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau. Theo văn bản ủy quyền ngày 05/5/2021 (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Lê Văn B, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Khánh T1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số A đường N, khóm C, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Theo văn bản ủy quyền ngày 14/7/2021 (có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Lê Thị H, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau
    2. Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Nguyễn Khánh T1, sinh năm 1976. Địa chỉ: 1 đường N, khóm C, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Theo văn bản ủy quyền ngày 14/7/2021 (có mặt).
    3. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp S, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau (có mặt).
    4. Ông Lê Văn M, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp S, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
    5. Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ Nguyễn Văn H1, tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
    6. Bà Lê Thị P, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
    7. Ông Lê Văn N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khu phố I, tổ A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (đã chết).

      Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn N:

      • 5.1. Cháu Lê Thảo N1, sinh năm 2007
      • 5.2. Cháu Lê Chí N2, sinh năm 2011

      Người giám hộ của cháu Lê Thảo N1, Lê Chí N2: Bà Nguyễn Phương T3, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu phố I, tổ A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

    8. Bà Nguyễn Phương T3, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu phố I, tổ A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
    9. Ông Lê Thanh C, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
    10. Chỗ ở hiện nay: Số E đường T, khu phố I, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    11. Ngân hàng N7 Chi nhánh huyện C. Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Ngọc N3 – Chức vụ: Giám đốc

      Người đại diện theo ủy quyền của ông N3: Ông Lê Quốc T4 – Chức vụ: Phó giám đốc (vắng mặt).

    12. Bà Trần Kim H2, sinh năm 1951 (vắng mặt).
    13. Ông Lê Đức B1, sinh năm 1972 (vắng mặt).
    14. Bà Lê Kim H3, sinh năm 1987 (vắng mặt).
    15. Ông Lê Hữu Đ, sinh năm 1986 (vắng mặt).
    16. Ông Lê Chí C1, sinh năm 1990 (vắng mặt).
    17. Ông Lê Đức L, sinh năm 1992 (vắng mặt).
    18. Bà Phạm Thị G, sinh năm 1972 (vắng mặt).
    19. Chị Lê Thị Trung N4, sinh năm 2001 (vắng mặt).
    20. Chị Lê Thị Doan H4, sinh năm 2004 (vắng mặt).
    21. Cùng địa chỉ: ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
    22. Ông Trần Văn M1, sinh năm 1958. Địa chỉ: Ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  • - Người kháng cáo: Ông Trần Thanh T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; Bà Lê Thị T2 và bà Lê Thị P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Ngọc S là ông Trần Thanh T trình bày:

Cha mẹ ruột của bà Lê Ngọc S là ông Lê Văn T5 sinh năm 1949 (chết ngày 22/02/2008) và bà Trần Thị M2 sinh năm 1951 (chết ngày 12/7/2015), ông T5 và bà M2 kết hôn vào khoảng năm 1965, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống giữa ông T5 và bà M2 có 06 người con chung gồm: Ông Lê Văn B, bà Lê Thị T2, bà Lê Ngọc S, ông Lê Văn M, bà Lê Thị P và ông Lê Văn N (chết năm 2021). Ông N có vợ là bà Nguyễn Phương T3 và có 02 con chung là Lê Thảo Nguyên sinh năm 2007 và Lê Chí N2 sinh năm 2011.

Đối với ông Lê Văn T5, sau khi kết hôn với bà M2 đến năm 1976 ông T5 chung sống với bà Trần Kim H2 không đăng ký kết hôn, ông T5 sống cùng lúc với cả bà H2 và bà M2. Trong quá trình chung sống giữa ông T5 và bà H2 có 06 người con chung gồm: Ông Lê Văn K (chết năm 2014 có vợ là bà Phạm Thị G và 02 con là Lê Thị Trung N4 và Lê Thị Doan H4), ông Lê Đức B1, ông Lê Hữu Đ, bà Lê Kim H3, ông Lê Chí C1 và ông Lê Đức L.

Đến năm 1988 bà M2 và ông T5 không còn sống chung, sau đó bà Trần Thị M2 sống với ông Trần Văn M1 vào khoảng năm 1988 – 1989 không đăng ký kết hôn, quá trình chung sống giữa ông M1 và bà M2 có 01 người con chung là Lê Văn C2.

Đối với phần đất tranh chấp, vào khoảng năm 1975 trước khi ông T5 sống chung với bà H2 thì ông nội của bà S là cụ Lê Văn H5 cho ông T5 và bà M2 để canh tác, phần đất có diện tích 30.460m² tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau, có tứ cận:

  • Hướng Đông giáp kinh T9;
  • Hướng Tây giáp sông B;
  • Hướng Nam giáp phần đất ông Lê Quang K1;
  • Hướng Bắc giáp đất ông Huỳnh Văn N5,

Đến năm 1994 thì ông T5 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0565976 ngày 10/4/1994 do ông Lê Văn T5 đứng tên quyền sử dụng. Ông T5 và bà M2 chết không để lại di chúc mà khi còn sống chỉ dặn phần đất nêu trên được chia đều cho 06 anh chị em trong gia đình và tạm thời giao đất cho ông B quản lý chung để canh tác lo cho các anh chị em. Bà S, bà T2, bà P đã nhiều lần yêu cầu ông B chia phần đất của ông T5 và bà M2 chết để lại cho 06 anh chị em nhưng ông B không đồng ý nên vào cuối năm 2020 bà S yêu cầu địa phương giải quyết, tuy nhiên hòa giải không thành. Trong quá trình giải quyết tại địa phương thì bà S, bà T2, bà P mới biết phần đất tranh chấp ông B đã đứng tên quyền sử dụng, đồng thời ông B đưa ra tờ di chúc của ông T5 lập ngày 19/4/1995 để ép bà S, bà T2, bà P thực hiện theo tờ di chúc. Tuy nhiên, tờ di chúc hoàn toàn không có giá trị pháp lý, bởi hơn 25 năm qua bà S, bà T2, bà P không biết gì về việc ông T5 lập di chúc để lại đất cho ông B, ông M, ông N, tờ di chúc ông B cung cấp là do ông B giả mạo. Trường hợp nếu tờ di chúc do ông T5 viết thì cũng không đúng với quy định của pháp luật vì phần đất 30.460m² là tài sản chung của ông T5 và bà M2, nên việc không có ý kiến, không cùng xác lập di chúc của bà M2 là không có giá trị. Bên cạnh đó, việc xác định phân chia di sản không có cuộc họp gia đình, không có sự thống nhất của tất cả các thành viên trong gia đình là có sự lừa dối, trái ý chí, xâm phạm đến quyền và lợi ích về tài sản của bà S, bà T2, bà P nên không có giá trị thi hành. Bà M2 cũng như bà S, bà T2, bà P không biết việc ông T5 lập di chúc để toàn bộ phần đất lại cho ông B, ông N, ông M, đồng thời cũng không biết việc chuyển nhượng đất giữa ông M, ông N và ông B.

Bà S thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, kết quả đo đạc của Công ty TNHH MTV T10, kết quả thẩm định giá của Công ty Cổ phần T11.

Nay bà S yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản của ông Lê Văn T5 và bà Trần Thị M2 là quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật cho 06 người con là Lê Văn B, Lê Thị T2, Lê Ngọc S, Lê Văn M, Lê Thị P, Lê Văn N, mỗi người được nhận một phần bằng nhau đối với phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 31.024,3m² đất tọa lạc ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Tại đơn khởi kiện bà S yêu cầu được nhận đất để canh tác, tại phiên toà bà S yêu cầu được nhận phần giá trị đất.

Ông Nguyễn Khánh T1 là người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Văn B trình bày:

Cha và mẹ ông B là ông Lê Văn T5 (chết năm 2008) và bà Trần Thị M2 (chết năm 2015), ông T5 và bà M2 kết hôn và khoảng năm 1965, ông T5 và bà M2 có 06 người con chung gồm: Lê Văn B, Lê Thị T2, Lê Ngọc S, Lê Văn M, Lê Thị P, Lê Văn N (chết năm 2021). Ông N có vợ là bà Nguyễn Phương T3 và có 02 con chung là Lê Thảo Nguyên sinh năm 2007 và Lê Chí N2 sinh năm 2011.

Đối với ông Lê Văn T5, sau khi kết hôn với bà M2 đến năm 1976 ông T5 chung sống với bà Trần Kim H2 không đăng ký kết hôn, ông T5 sống cùng lúc với cả bà H2 và bà M2. Trong quá trình chung sống giữa ông T5 và bà H2 có 06 người con chung gồm: Ông Lê Văn K (chết năm 2014 có vợ là bà Phạm Thị G và 02 con là Lê Thị Trung N4 và Lê Thị Doan H4), ông Lê Đức B1, ông Lê Hữu Đ, bà Lê Kim H3, ông Lê Chí C1 và ông Lê Đức L.

Sau khi sinh ông N khoảng năm 1982 bà M2 và ông T5 không còn sống chung, sau đó bà Trần Thị M2 sống với ông Trần Văn M1 vào khoảng năm 1988 – 1989 không đăng ký kết hôn, quá trình chung sống giữa ông M1 và bà M2 có 01 người con chung là Lê Văn C2.

Năm 1975 cụ Lê Văn H5 có cho riêng ông T5 một phần đất diện tích 30.460m² (theo đo đạc thực tế là 31.024,3m²) tọa lạc ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Đến năm 1994 thì ông T5 làm thủ tục và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lê Văn T5 đứng tên quyền sử dụng. Đến năm 1995 thì ông T5 lập di chúc để lại phần đất cho 03 người con trai là ông B, ông M và ông N. Năm 1998, ông B có thỏa thuận nhận chuyển nhượng lại 02 phần đất của ông Lê Văn M và ông Lê Văn N với giá 10 cây vàng 24K mỗi phần. Sau đó ông Lê Văn M và ông Lê Văn N dùng số vàng đó để nhận chuyển nhượng đất ở Xóm M (huyện P) của ông T6 và ông V. Ông B có chứng kiến ông M và ông N giao trả vàng cho chủ đất. Do đã nhận chuyển nhượng 02 phần đất của ông Lê Văn M và ông Lê Văn N nên đến năm 2002 ông T5 lập biên bản họp gia đình và làm thủ tục để chuyển tên toàn bộ phần đất của ông T5 đứng tên quyền sử dụng lại cho ông B. Việc làm thủ tục chuyển tên phần đất từ ông T5 sang ông B là do ông T5 tự làm, biên bản họp thân tộc ngày 04/8/2002, đơn xin chuyển quyền sử dụng đất cho con ngày 04/8/2002 là do ông T5 tự viết, chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, biên bản đề nghị xác minh là của ông T5, đến ngày 30/9/2002 ông B được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 28/12/2020 bà Lê Ngọc S, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị P có gửi đơn yêu cầu tổ hòa giải ấp Đ, xã T yêu cầu phân chia tài sản của ông Lê Văn T5 cho 03 người con gái, ông B không đồng ý vì di chúc của ông T5 không chia cho 03 người con gái, đồng thời khi còn sống ông T5 đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B. Khi hòa giải tại địa phương thì bà S, bà T2, bà P có xin ông B mỗi người 01 công đất (1000m²) tính từ giáp ranh ông Lê Quang K1 qua và trải dài từ mặt tiền đến hậu, vì chỗ anh em nên ông B cũng đồng ý nhưng sau khi ra cắm ranh ngoài thực tế thì bà S, bà T2, bà P không đồng ý nhận vì chê diện tích đất nhỏ nên dẫn đến hòa giải không thành.

Vào năm 1994 khi ông T5 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T5 và bà M2 đã không còn chung sống với nhau, bà M2 đã sống chung với ông M1. Do đó, đây là tài sản riêng của ông T5, đồng thời vào thời điểm năm 1995 khi ông T5 lập di chúc để lại cho 03 người con trai là ông B, ông M, ông N, đến năm 1998 khi ông M, ông N chuyển nhượng lại cho ông B thì bà M2 đều biết và không có ý kiến phản đối. Phần đất tranh chấp là tài sản riêng của ông T5 nên ông T5 đã lập di chúc cho ông B, ông M, ông N và ông B thoả thuận nhận chuyển nhượng lại từ ông Lê Văn M và ông Lê Văn N có sự xác nhận đồng ý ký tên của tất cả các bên và có người chứng kiến. Đất tại thời điểm chuyển nhượng không tranh chấp và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo đúng quy định về trình tự, thủ tục. Hiện ông T5 đã đứng tên quyền sử dụng đất từ năm 2002 nên phần đất tranh chấp không phải là di sản của ông T5 và bà M2. Do đó việc bà S, bà T2, bà P khởi kiện ông B yêu cầu phân chia thừa kế di sản của ông T5 và bà M2 là không có cơ sở nên ông B không đồng ý.

Ông B thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, kết quả đo đạc của Công ty TNHH MTV T10, kết quả thẩm định giá của Công ty Cổ phần T11. Trên phần đất hiện có một cái cống và một số cây trồng, nếu Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S, bà T2, bà P thì ông B tự di dời cây trồng, cống trên phần đất đi nơi khác, không yêu cầu bồi thường hoặc hỗ trợ di dời. Đối với công sức đóng góp, đầu tư cải tạo ông B cũng không yêu cầu. Đối với việc chuyển nhượng giữa ông B và ông N, ông M thì ông B cũng không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Bà Lê Thị T2 trình bày:

Bà thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông Trần Thanh T là người đại diện theo uỷ quyền của bà Lê Ngọc S. Nay bà yêu cầu chia di sản của ông Lê Văn T5 và bà Trần Thị M2 là quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật cho 06 người con là Lê Văn B, Lê Thị T2, Lê Ngọc S, Lê Văn M, Lê Thị P, Lê Văn N, mỗi người được nhận một phần bằng nhau đối với phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 31.024,3m² đất tọa lạc ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Tại đơn yêu cầu bà yêu cầu được nhận đất để canh tác, tuy nhiên tại phiên toà bà yêu cầu được nhận phần giá trị đất.

Bà Lê Thị P trình bày:

Bà thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông Trần Thanh T là người đại diện theo uỷ quyền của bà Lê Ngọc S. Nay bà yêu cầu chia di sản của ông Lê Văn T5 và bà Trần Thị M2 là quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật cho 06 người con là Lê Văn B, Lê Thị T2, Lê Ngọc S, Lê Văn M, Lê Thị P, Lê Văn N, mỗi người được nhận một phần bằng nhau đối với phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 31.024,3m² đất tọa lạc ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Tại đơn yêu cầu bà yêu cầu được nhận đất để canh tác, tuy nhiên tại phiên toà bà yêu cầu được nhận phần giá trị đất.

Ông Nguyễn Khánh T1 là người đại diện theo uỷ quyền của bà Lê Thị H trình bày:

Bà H thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông Lê Văn B. Bà H thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, kết quả đo đạc của Công ty TNHH MTV T10, kết quả thẩm định giá của Công ty Cổ phần T11. Đối với vụ án bà H không có yêu cầu gì. Nếu Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S, bà T2, bà P thì bà H tự di dời cây trồng, cống trên phần đất đi nơi khác, không yêu cầu bồi thường hoặc hỗ trợ di dời. Đối với công sức đóng góp, đầu tư cải tạo bà H cũng không yêu cầu. Đối với việc chuyển nhượng giữa ông B và ông N, ông M thì bà H cũng không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Ông Lê Văn M trình bày:

Ông thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông Lê Văn B.

Năm 1995 sau khi ông T5 lập di chúc để lại phần đất cho 03 người con trai là ông Lê Văn B, ông Lê Văn N và ông, mỗi người một phần bằng nhau. Đến năm 1998 thì ông và ông N chuyển nhượng lại cho ông Lê Văn B với giá là 20 cây vàng 24k (ông N 10 cây, ông 10 cây). Sau khi ông và ông N chuyển nhượng đất cho ông B thì ông và ông N mua lại phần đất khoảng 40 công ở dưới huyện P với giá 24 cây vàng 24k, trong đó phần của ông trả 14 cây vàng 24k, ông N trả 10 cây vàng 24k. Sau khi mua phần đất ở dưới huyện P một thời gian thì ông và ông N thoả thuận đổi đất, ông N giao ông phần đất đã mua ở dưới huyện P, ông giao lại phần đất của ông mua từ cậu B (Em ruột bà M2), cập ranh với phần đất bà M2 và ông N đang ở lúc bấy giờ. Khi ông T5 lập di chúc để lại phần đất cho 03 người con trai thì bà M2 biết và không có ý kiến phản đối. Đến năm 1998 khi ông và ông N chuyển nhượng phần đất được ông T5 cho cho ông B thì ông và ông N có bàn bạc với bà M2 và bà M2 cũng thống nhất, khi đó ông, ông N, bà M2, ông M1 sống chung nhà. Sau khi nhận chuyển nhượng phần đất ở huyện P bà M2 và ông M1 còn xuống giữ vuông cho ông khoảng 02 năm. Ông xác định phần đất đang tranh chấp trước đây ông T5 và bà M2 đã thống nhất để lại cho ông, ông B, ông N, sau đó ông và ông N đã chuyển nhượng lại cho ông B nên nay đối với vụ án thì ông không không có yêu cầu gì.

Bà Nguyễn Phương T3 là người có quyền lợi ngĩa vụ liên quan và là người đại diện hợp pháp cho cháu Lê Thảo N1 và cháu Lê Chí N2 trình bày:

Bà là vợ của ông Lê Văn N, bà và ông N kết hôn vào năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Ông N chết vào năm 2021, quá trình chung sống giữa bà và ông N có 02 người con chung gồm: Lê Thảo Nguyên sinh năm 2007 và Lê Chí N2 sinh năm 2011. Khi bà kết hôn với ông N thì bà về sinh sống chung nhà với ông N tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau. Khi bà về sống chung với ông N còn có mẹ của ông N là bà Trần Thị M2 và ông Trần Văn M1 (cha dượng của ông N). Đối với ông M thì sinh sống ở ấp R, còn bà S, bà T2, bà P sống riêng nhưng không nhớ địa chỉ ở đâu. Đối với phần đất đang tranh chấp giữa bà S và ông B có nguồn gốc của cha chồng bà là ông Lê Văn T5, sau đó ông T5 cho 03 người con trai là ông B, ông M, ông N, sau đó ông M, ông N bán lại cho ông B. Ông M, ông N lấy vàng mua lại 02 phần đất ở ấp R, canh tác được một thời gian thì ông N để lại phần đất này cho ông M và mua lại phần đất của ông Ba H6 (em ruột bà M2). Đến năm 2011 thì ông N và bà M2 thống nhất chuyển nhượng lại phần đất bà M2 và ông N đang sinh sống cho ông B với giá 400.000.000 đồng, ông N và bà M2 chia nhau mỗi người ½ là 200.000.000 đồng, bà và ông N lên tỉnh Đồng Nai sinh sống, còn bà M2 và ông M1 thì về tỉnh Sóc Trăng.

Khi bà về sinh sống cùng ông N thì phần đất tranh chấp giữa bà S và ông B đối diện với nhà bà M2 cách một con sông. Phần đất tranh chấp thì do ông B canh tác. Khi bà về sống cùng ông N và bà M2 thì bà M2 biết phần đất đang tranh chấp do ông B đã đứng tên quyền sử dụng, bà M2 thống nhất và không có ý kiến phản đối vì phần đất này trước đây ông T5 đã cho ông B, ông N, ông M, sau đó ông N, ông M bán lại cho ông B.

Bà về sinh sống cùng với ông N, bà M2, ông M1 từ năm 2006 đến khoảng năm 2011, trong khoảng thời gian này do bà M2, ông N, ông M, ông B có nói sự việc trên nên bà biết, đồng thời từ khi về sống chung với bà M2 đến khi bán đất đi thì bà M2 không có yêu cầu ông B chia phần đất tranh chấp cho bà M2 hay các anh chị em khác hoặc tranh chấp gì với ông B.

Đối với vụ án tranh chấp thì bà cũng như hai con của bà không có yêu cầu gì vì phần đất trước đây ông T5 cho ông N và ông N đã chuyển nhượng cho ông B. Trong trường hợp Toà án không công nhận việc ông T5 cho đất ông B, ông M, ông N là hợp pháp đối với việc chuyển nhượng giữa ông B và ông N thì bà không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết. Nếu phải chia di sản của ông T5 và bà M2 chết để lại thì phần của bà và các con bà được nhận, bà yêu cầu giao lại cho ông B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H7 trình bày:

Bà là vợ của ông Lê Văn T5 (ông T5 chết năm 2008), bà và ông T5 chung sống với nhau từ năm 1976 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống giữa bà và ông T5 có 06 người con chung gồm: Lê Văn K sinh năm 1972 chết năm 2024, (ông K có vợ là bà Phạm Thị G và các con là Lê Thị Trung N4 sinh năm 2001 và Lê Thị D Hy sinh năm 2004), ông Lê Đức B1 sinh năm 1972, ông Lê Hữu Đ sinh năm 1986, bà Lê Kim H3 sinh năm 1987, ông Lê Chí C1 sinh năm 1990 và ông Lê Đức L sinh năm 1992.

Trước đây khi bà và ông T5 chung sống với nhau thì ông T5 đã không còn sống với bà M2 do phát sinh mâu thuẫn. Tuy nhiên, một thời gian sau khi đang chung sống với bà thì ông T5 quay về hàn gắn với bà M2 và sinh sống như vợ chồng với bà và bà M2. Đến khoảng năm một nghìn chín trăm tám mươi mấy (bà không nhớ rõ) giữa ông T5 và bà M2 phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc ông T5 đi tù và từ đó ông T5 và bà M2 không còn chung sống với nhau nữa. Đối với phần đất đang tranh chấp giữa bà Lê Ngọc S và ông Lê Văn B tại ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau là tài sản riêng của ông T5 được cụ Lê Văn H5 cho trước khi bà và ông T5 chung sống với nhau (cụ thể năm nào thì bà không biết).

Việc ông T5 lập tờ di chúc để lại phần đất đang tranh chấp cho ông B, ông M, ông N bà không biết. Vào năm 2002 ông T5 có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B thì bà không biết, chữ “Hoa” trong hợp đồng chuyển nhượng không phải là của bà. Đối với việc ông K và ông B1 có cùng năm sinh là 1972 là do ông T5 khai cước tuổi lên, chứ bà và ông T5 sống chung với nhau từ năm 1976.

Đối với phần đất đang tranh chấp giữa bà S và ông B là tài sản riêng của ông T5 được cụ H5 cho, nếu Toà án xác định là tài sản chung của bà và ông T5 hoặc của bà, ông T5 và bà M2 thì bà từ chối nhận, giao phần của bà để lại cho ông T5. Đối với vụ án bà không có yêu cầu gì nếu Toà án xác định chia phần di sản của ông T5 thì bà cũng từ chối nhận và yêu cầu Toà án giải quyết theo pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đức B1 trình bày:

Ông là con ruột của ông Lê Văn T5 và bà Trần Kim H2, đối với phần đất tranh chấp giữa bà Lê Ngọc S và ông Lê Văn B có nguồn gốc là do ông nội của ông là cụ Lê Văn H5 cho ông Lê Văn T5. Sau đó ông Lê Văn T5 có lập di chúc để lại cho 03 người con trai gồm ông Lê Văn B, ông Lê Văn M và ông Lê Văn N. Tuy nhiên, giao cho ông B trực tiếp quản lý, canh tác khi có lời thì chia cho ông M và ông N. Một thời gian sau thì giữa ông B, ông M, ông N có thoả thuận ông M, ông N bán lại cho ông B phần đất được ông T5 cho, ông N lấy vàng làm gì ông không biết, ông M lấy vàng để mua phần đất khác.

Đối với bà M2 trước đây sinh sống trên phần đất đang tranh chấp, đến khoảng năm một nghìn chín trăm tám mươi mấy (không nhớ rõ), bà M2 về sinh sống trên phần đất của cha mẹ ruột bà M2 cho, đối diện với phần đất hiện đang tranh chấp. Lý do bà M2 về bên phần đất mẹ ruột bà M2 cho sinh sống là vì giữa bà M2 và ông T5 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến ông T5 đi tù. Đối với việc ông T5 lập di chúc để lại cho 03 người con thì bà M2 biết nhưng không phản đối vì phần đất này là của cụ H5 cho ông T5. Lý do ông biết sự việc là vì trước đây ông sinh sống gần phần đất hiện đang tranh chấp chỉ cách khoảng 300m, đến năm 2003 thì ông mới về ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau sinh sống.

Đối với vụ án thì ông không có yêu cầu gì, nếu Toà án giải quyết chia thừa kế phần đất của ông T5 theo quy định của pháp luật thì phần di sản ông được nhận ông yêu cầu để lại cho ông B, vì phần đất này khi còn sống ông T5 đã lập di chúc để lại cho ông B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị G trình bày:

Bà là vợ của ông Lê Văn K (chết năm 2014), giữa bà và ông K có 02 người con chung là Lê Thị Trung N4 sinh năm 2001 và Lê Thị D Hy sinh năm 2004. Đối với vụ án tranh chấp giữa bà Lê Ngọc S và ông Lê Văn B thì bà không có ý kiến và cũng không có yêu cầu gì. Nếu chồng bà là ông Lê Văn K được nhận di sản của ông T5 thì bà từ chối nhận và yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C3 trình bày:

Ông là con ruột của ông Lê Văn T5 và bà Trần Kim H2, đối với phần đất đang tranh chấp giữa bà Lê Ngọc S và ông Lê Văn B theo ông được biết là do ông nội của ông là cụ Lê Văn H5 cho lại ông Lê Văn T5. Đối với phần đất đang tranh chấp ông không có yêu cầu chia thừa kế, mà yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu Toà án xác định đây là di sản của cụ T5 và phải chia thừa kế theo pháp luật thì ông yêu cầu chia đều cho 06 người con của ông T5 và bà M2. Ông không yêu cầu chia phần di sản do ông T5 để lại, ngoài ra ông cũng không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đức L trình bày:

Ông là con ruột của ông Lê Văn T5 và bà Trần Kim H2, đối với phần đất đang tranh chấp giữa bà Lê Ngọc S và ông Lê Văn B theo ông được biết là do ông nội của ông là cụ Lê Văn H5 cho lại ông Lê Văn T5. Đối với phần đất đang tranh chấp giữa bà S và ông B thì ông không có yêu cầu gì. Nếu Toà án xác định ông được nhận phần di sản của ông T5 thì ông cũng từ chối nhận và yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn M1 trình bày:

Ông và bà Trần Thị M2 chung sống với nhau như vợ chồng từ khoảng năm 1988 – 1989 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống giữa ông và bà M2 có 01 người con chung là Lê Thanh C, sinh năm 1994. Khi ông và bà M2 bắt đầu chung sống với nhau vào khoảng năm 1988 – 1989 là sống tại phần đất của bà M2 được cha mẹ bà M2 để lại tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau). Phần đất cha mẹ bà M2 để lại cho bà M2 ở đối diện phần đất đang tranh chấp giữa bà Lê Ngọc S và ông Lê Văn B. Từ khi ông về sống cùng bà M2 thì bà M2 chỉ ở và canh tác trên phần đất của cha mẹ bà M2 để lại, đối với phần đất đang tranh chấp thì do ông B quản lý, sử dụng và canh tác. Khi ông về ở chung với bà M2 thì lúc đó có 03 người con của bà M2 cùng ở chung với ông và bà M2 gồm ông M, ông N, bà P. Đối với phần đất của bà M2 được cha mẹ để lại đến năm 2013 thì bà M2 chuyển nhượng lại cho ông Lê Văn B toàn bộ, sau đó ông, bà M2, anh C về sinh sống tại ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

Trước đây khi còn sinh sống cùng với bà M2 ở xã T thì ông có nghe việc ông Lê Văn T5 để lại phần đất đang tranh chấp cho con của ông T5 và bà M2 nhưng không rõ là ai, khi đó thì bà M2 cũng biết sự việc thì bà M2 cũng thống nhất và không có ý kiến phản đối. Đồng thời vì lúc đó bà M2 cũng có phần đất riêng đối diện do cha mẹ bà M2 để lại. Trước đây ông không nhớ rõ năm nào, khi đó ông M còn sống chung với ông và bà M2 thì ông M có chuyển nhượng phần đất được ông T5 cho trước đây cho ông B. Sau đó ông M lấy vàng mua phần đất ở ấp R rồi mượn ông và bà M2 xuống giữ vuông khoảng 02 năm, sau đó ông và bà M2 không giữ nữa và về lại phần đất trước đây cha mẹ bà M2 cho để sinh sống. Khi ông M bán đất cho ông B thì ông và bà M2 có chứng kiến và thống nhất với việc sang bán giữa ông M và ông B. Ông khẳng định việc ông M chuyển nhượng đất cho ông B thì bà M2 biết và thống nhất, không có ý kiến phản đối, vì khi đó ông M sinh sống cùng với ông và bà M2. Từ khi ông về sinh sống chung với bà M2 đến kho bà M2 chết vào năm 2015 thì bà M2 không có yêu cầu ông B trả lại phần đất đang tranh chấp hoặc có phát sinh tranh chấp gì với ông B. Việc ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất ông B được ông T5 cho trước đây thì ông và bà M2 đều biết nhưng bà M2 không phản đối. Lý do ông biết là vì khi đó bà M2 có nói cho ông biết, đồng thời khi ông T5 tới lui nhà bà M2 có nói cho ông và bà M2 biết.

Đối với vụ án tranh chấp giữa bà Lê Ngọc S và ông Lê Văn B ông không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh C trình bày:

Ông là con ruột của bà Trần Thị M2 và ông Trần Văn M1, mẹ ông là bà Trần Thị M2 chết năm 2015. Đối với vụ án tranh chấp giữa bà Lê Ngọc S và ông Lê Văn T5 ông không có yêu cầu gì. Nếu Toà án giải quyết chia di sản của ông T5 và bà M2 thì ông yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N7 chi nhánh huyện C trình bày:

Ngày 15/02/2017 ông Lê Văn B và bà Lê Thị H có thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông B đứng tên quyền sử dụng, diện tích 30.460m² tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau để vay tiền của Ngân hàng N7 chi nhánh huyện C (Ngân hàng). Tính đến ngày 15/02/2023 còn nợ lại tổng số tiền là 475.700.000 đồng, trong đó: vốn là 450.000.000 đồng, lãi 25.700.000 đồng. Nay tài sản thế chấp của ông B phát sinh tranh chấp nên Ngân hàng yêu cầu ông B và bà H có trách nhiệm trả hết nợ vay cho Ngân hàng theo hợp đồng đã ký. Ngày 11/5/2023 Ngân hàng có đơn rút lại yêu cầu đối với ông B và bà H vì ông B và bà H đã trả nợ cho Ngân hàng và rút lại tài sản thế chấp.

Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc S, yêu cầu độc lập của bà Lê Thị T2 và bà Lê Thị P về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông Lê Văn T5 và bà Trần Thị M2. Phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 31.024,3m² tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau hiện do ông Lê Văn B đứng tên quyền sử dụng được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/9/2002, tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 156027, tờ bản đồ số 12, thửa số 0033 và thửa số 0032.

Vị trí tứ cận: Hướng Đông giáp kinh T9; Hướng Tây giáp sông B; Hướng Nam giáp phần ông Lê Quang K1; Hướng Bắc giáp đất ông Huỳnh Văn N5.

(Có bãn vẽ hiện trạng ngày 07/6/2021 của Công ty TNHH MTV T10 kèm theo).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 06/9/2024 ông Trần Thanh T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Ngọc S có đơn kháng cáo, ngày 11/9/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị P và bà Lê Thị T2 có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo ông T, bà P, bà T2 yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước theo hướng chia đều phần đất tranh chấp cho các đồng thừa kế và yêu cầu nhận giá trị đất bằng tiền.

Tại phiên toà phúc thẩm: Người kháng cáo là ông Trần Thanh T, bà Lê Thị P và bà Lê Thị T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Khánh T1 không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, bà T2, bà P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là yêu cầu khởi kiện tranh chấp yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý và giải quyết vụ án dân sự là đúng thẩm quyền.

[2] Xét nội dung kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại đơn kháng cáo cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ông T, bà T2, bà P yêu cầu chấp nhận yêu cầu kháng cáo sửa bản án sơ thẩm và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật cho các bà S, bà T2, bà P mỗi người một kỷ phần với giá trị bằng tiền. Thấy rằng:

Các đương sự đều thống nhất xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp có diện tích theo đạc thực tế 31.024,3m² tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau của cha ruột ông Lê Văn T5 là cụ Lê Văn H5 khai phá và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Lê Văn H5.

Năm 1994 thì ông T5 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0565976 ngày 10/4/1994, diện tích 30.460m² do ông Lê Văn T5 đứng tên quyền sử dụng.

Sau khi ông T5 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/4/1994, đến ngày 19/4/1995 ông T5 lập tờ di chúc để lại toàn bộ phần đất cho 03 người con trai là ông Lê Văn B, ông Lê Văn M và ông Lê Văn N mỗi người một phần bằng nhau. Đến năm 1998 thì ông M và ông N chuyển nhượng phần của ông M và ông N được chia cho ông B với giá 20 cây vàng 24k nên vào năm 2002 ông T5 đã làm thủ tục chuyển tên toàn bộ phần đất của ông T5 đứng tên quyền sử dụng cho ông B theo hình thức chuyển nhượng và ông B đã đứng tên quyền sử dụng đất vào ngày 30/9/2002.

Bà S, bà T2, bà P cho rằng tờ di chúc năm 1995 do ông B cung cấp và hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông T5 sang ông B vào năm 2002 là do ông B tự làm: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành giám định chữ ký và chữ viết trong Tờ di chúc ngày 19/5/1995, Biên bản xác minh đề nghị ngày 19/9/2002, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/9/2002, Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất cho con ngày 04/8/2002 âm lịch, Biên bản họp thân tộc ngày 04/8/2002 âm lịch có phải là chữ ký và chữ viết của ông T5 hay không. Tại Kết luận giám định số 216/KL-KTHS ngày 30/7/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh C kết luận: Chữ ký và chữ viết Lê Văn T5 trong Tờ di chúc ngày 19/5/1995, Biên bản xác minh đề nghị ngày 19/9/2002, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/9/2002, Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất cho con ngày 04/8/2002 âm lịch, Biên bản họp thân tộc ngày 04/8/2002 âm lịch là do ông T5 ký và ghi họ tên. Đồng thời cũng kết luận đối với chữ viết trong Tờ di chúc ngày 19/5/1995, Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất cho con ngày 04/8/2002 âm lịch, Biên bản họp thân tộc ngày 04/8/2002 âm lịch là do ông T5 viết. Từ đó cho thấy, việc bà S, bà T2, bà P cho rằng ông B tự làm giả các giấy tờ trên để đứng tên quyền sử dụng đất là không có cơ sở chấp nhận.

Theo Kết luận giám định số 216/KL-KTHS ngày 30/7/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh C đã kết luận chữ viết trong Biên bản họp thân tộc ngày 04/8/2002 âm lịch là của ông T5. Ông T5 đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1994, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải cấp cho hộ gia đình nên ông T5 có quyền định đoạt đối với phần đất này, việc ông T5 chuyển tên quyền sử dụng đất cho ông B không cần phải có sự đồng ý của các con trong gia đình và sự đồng ý của cụ H5. Do đó việc có họp hoặc không họp thân tộc cũng không ảnh hưởng đến quyền định đoạt tài sản của ông T5.

Bà S, bà P, bà T2 cho rằng việc ông T5 lập di chúc để lại cho ông M, ông N và ông B và sau đó ông B mua lại phần đất của ông M, ông N6 thì bà M2 không biết: Xét thấy, vào thời điểm năm 1995 khi ông T5 lập di chúc để chia đất cho ông B, ông M, ông N và thời điểm năm 1998 khi ông N và ông M chuyển nhượng lại phần đất cho ông B thì ông M1 (chồng sau của bà M2) đang sinh sống cùng với bà M2, ông M, ông N trên phần đất bà M2 được cha mẹ ruột của bà M2 cho.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm ông M cũng xác định, khi ông T5 lập di chúc để lại phần đất cho 03 người con trai gồm ông M, ông T5, ông N và sau đó ông M, ông N chuyển nhượng cho ông B thì bà M2 biết và cùng thống nhất, vì khi đó ông M đang sống chung nhà với bà M2, đồng thời khi chuyển nhượng đất cho ông B và mua lại phần đất ở dưới huyện P thì ông M đều có bàn bạc với bà M2, sau đó bà M2 và ông M1 còn xuống giữ vuông cho ông M. Bà Nguyễn Phương T3 là vợ của ông Lê Văn N cũng xác định “Khi bà về sống cùng với bà M2 và ông N thì bà M2 biết phần đất đang tranh chấp ông B đã đứng tên quyền sử dụng, bà M2 thống nhất và không có ý kiến phản đối vì phần đất này trước đây ông T5 đã cho ông B, ông N, ông M, sau đó ông N, ông M bán lại cho ông B. Đối với việc ông T5 cho phần đất đang tranh chấp cho ông M, ông N và ông B, sau đó ông M, ông N bán lại cho ông B, bà M2 đều biết và không có ý kiến phản đối. Bà về sinh sống cùng với ông N, bà M2, ông M1 từ năm 2006 đến khoảng năm 2011, trong khoảng thời gian này do bà M2, ông N, ông M, ông B có nói sự việc trên nên bà biết”.

Mặc khác năm 1995 khi ông T5 lập di chúc để lại phần đất cho ông N, ông M, ông B thì cụ Lê Văn H5 còn sống có chứng kiến và ký tên vào tờ di chúc, có xác nhận của Ban N8 và chứng thực của Ủy ban nhân dân xã T Đến năm 2002 ông T5 lập biên bản họp thân tộc để chuyển quyền phần đất lại cho ông B có ông Lê Văn T7 là em của ông cụ H5 chứng kiến, có xác nhận của Ban N9 và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T Đến khi ông T5 làm hợp đồng chuyển tên quyền sử dụng lại đất cho ông B thì Phòng địa chính Ủy ban nhân dân huyện C đã xuống xác minh, có chữ ký xác nhận của các hộ giáp ranh là ông Huỳnh Chánh T8 và ông Lê Văn T7, biên bản còn có xác nhận của Ban nhân dân ấp, cán bộ địa chính xã T Từ đó, cho thấy việc ông T5 lập di chúc và làm hồ sơ chuyển tên quyền sử dụng đất lại cho ông B là công khai, thời điểm đó bà M2 ở đối diện với phần đất tranh chấp, chỉ cách một con sông nên bà M2 không thể không biết sự việc trên. Ông Lê Văn B2 là con của bà H2 và ông T5, ông Lê Hoàng H8 là cháu ngoại của cụ H5 sinh sống gần phần đất tranh chấp đều xác định có sự việc ông T5 lập di chúc để lại cho ông N, ông M, ông B và ông N, ông M chuyển nhượng lại cho ông B. Do đó, việc bà S, bà P, bà T2 cho rằng việc ông T5 lập di chúc để lại cho ông M, ông N và ông B và sau đó ông B mua lại phần đất của ông M, ông N thì bà M2 là không biết là không có cơ sở.

Trong quá trình giải quyết tại Ủy ban nhân dân xã T thì bà S, bà T2, bà P cho rằng phần đất tranh chấp là do cụ Lê Văn H5 để lại cho 06 anh chị em, tuy nhiên quá trình tố tụng tại Tòa án thì bà S, bà T2, bà P cho rằng khi ông T5 và bà M2 còn sống có căn dặn phần đất tranh chấp chia đều cho 06 anh chị em nhưng bà S, bà T2, bà P không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh.

Như vậy việc ông B đứng tên quyền sử dụng đất trước khi ông T5 và bà M2 chết và việc đứng tên quyền sử dụng đất thông qua quyết định sự đồng ý của ông T5 và bà M2, đồng thời thủ tục cấp quyền sử dụng đất là đúng quy định pháp luật. Do vậy phần đất này không còn là di sản thừa kế khi ông T5 và bà M2 chết nên việc bà S, bà T2, bà P yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và yêu cầu buộc ông B, bà H có nghĩa vụ giao lại cho 06 anh em trong gia đình và các bà được nhận mỗi người một kỷ phần giá trị đất bằng tiền là không có căn cứ.

[3] Từ những nhận định trên, quyết định của bản án sơ thẩm là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông T, bà T2, bà P. Cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước là phù hợp.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Thanh T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T2 và bà Lê Thị P.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc S, yêu cầu độc lập của bà Lê Thị T2 và bà Lê Thị P về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông Lê Văn T5 và bà Trần Thị M2. Phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 31.024,3m² tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau hiện do ông Lê Văn B đứng tên quyền sử dụng được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/9/2002, tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 156027, tờ bản đồ số 12, thửa số 0033 và thửa số 0032.
  2. Vị trí tứ cận: Hướng Đông giáp kinh T9; Hướng Tây giáp sông B; Hướng Nam giáp phần ông Lê Quang K1; Hướng Bắc giáp đất ông Huỳnh Văn N5.

    (Có bãn vẽ hiện trạng ngày 07/6/2021 của Công ty TNHH MTV T10 kèm theo).

  3. Chi phí tố tụng:

    Chi phí đo đạc 12.947.000 đồng (Mười hai triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn đồng), chi phí định giá 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), tổng là 24.947.000 đồng (Hai mươi bốn triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) do bà Lê Ngọc S chịu toàn bộ. Bà S đã nộp xong.

    Bà Lê Ngọc S phải chịu chi phí giám định chữ ký và chữ viết của ông Lê Văn T5 với số tiền 4.050.000 đồng (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Bà Lê Thị T2 phải chịu chi phí giám định chữ ký của bà T2 với số tiền 2.211.000 đồng (Hai triệu hai trăm mười một nghìn đồng). Đối với số tiền giám định chữ ký, chữ viết bà S, bà T2 đã nộp xong.

  4. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Ngọc S, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị P mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
    • + Bà Lê Ngọc S có dự nộp số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 007539 ngày 15 tháng 4 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước được chuyển thu đối trừ.
    • + Bà Lê Thị P có dự nộp số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007915 ngày 15 tháng 3 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước được chuyển thu đối trừ.
    • + Bà Lê Thị T2 có dự nộp số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007914 ngày 15 tháng 3 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước được chuyển thu đối trừ.
    • Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Ngọc S, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị P mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ngày 06/9/2024 bà S đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013586, ngày 11/9/2024 bà T2, bà P mỗi người đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo các biên lai thu số 0013588, 0013589 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tất cả được chuyển thu đối trừ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 49/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger