TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày: 23-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Hoàng
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Đô
- Bà Lưu Thị Thôi
- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Anh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 344/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 379/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa hình sự sơ thẩm số 416/TB-TA ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa hình sự sơ thẩm số 30/TB-TA ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Trọng S, sinh năm: 2002 tại Bình Thuận; Địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phi T và bà Nguyễn Thị L; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Tại Bản án số 96/2022/HSST ngày 13/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Tại Bản án số 210/2022/HSST ngày 29/11/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 01 năm tù tại Bản án số 96/2022/HSST ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam buộc S phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 27 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/5/2024.
Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày: 05/7/2024; có mặt.
2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1996 tại Bình Thuận; Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T1; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Tại Quyết định số 78/QĐ-UBND ngày 16/4/2019, Chủ tịch UBND phường Đ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
- Tại Bản án số 216/2022/HSST Ngày 02/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/9/2024.
Bị cáo tại ngoại tại địa phương; có mặt.
* Bị hại:
Bà Nguyễn Thị Kim Đ1, sinh năm 1977, Địa chỉ: Khu phố B, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 13/5/2022, do thiếu tiền tiêu xài nên Nguyễn Trọng S rủ Nguyễn Văn Đ đi trộm cắp tài sản thì Đ đồng ý. Sau đó, S và Đ đi bộ vào một con hẻm thuộc khu phố B, phường Đ, Tp P thì phát hiện nhà bà Nguyễn Thị Kim Đ1 không có người ở nhà, cửa sổ lầu 1 còn mở nên S bảo Đ đứng ngoài cảnh giới để S đột nhập vào nhà bà Đ1 trộm cắp tài sản. Đ đứng ở đầu hẻm để cảnh giới còn S trèo lên nóc của ô tô đậu trước đó bám vào cửa sổ nhà bà Đ1 rồi đột nhập vào nhà. S đi vào phòng ngủ của bà Đ1 thì phát hiện trên kệ tủ có 03 chiếc vòng tay bằng vàng, 01 sợi dây chuyền bằng vàng, 01 mặt dây chuyền bằng vàng và 02 nhẫn vàng nên đã bỏ toàn bộ số tài sản này vào túi quần của mình rồi cùng Đ tẩu thoát. Sau khi trộm cắp được tài sản, S đưa cho Đ 02 chiếc vòng đeo tay bằng vàng, 01 chiếc nhẫn bằng vàng còn lại Sang giữ 01 sợi dây chuyền bằng vàng, 01 chiếc nhẫn bằng vàng, 01 chiếc vòng đeo tay bằng vàng, 01 mặt dây chuyền bằng vàng.
Đến ngày 15/5/2022, Đ gặp Mai Anh Q, sinh năm 1996, trú tại khu phố D, phường Đ, Tp P nhờ Q đi bán giùm 01 chiếc nhẫn bằng vàng, Q có hỏi Đ về nguồn gốc chiếc nhẫn vàng thì Đ nói của mình. Sau đó, Q mang chiếc nhẫn này đến tiệm V do bà Lê Thị Tuyết T2, sinh năm 1994, trú tại khu phố A, phường P, Tp P làm chủ để bán, bà T2 đồng ý mua với giá 6.000.000 đồng. Q cầm tiền về đưa cho Đ. Đến buổi chiều cùng ngày, Đ gặp Đào Trường K, sinh năm 1996, trú tại khu phố D, phường Đ, Tp P nhờ đi bán giùm 01 chiếc vòng đeo tay bằng vàng, K hỏi Đ về nguồn gốc thì Đ nói của mình. Sau đó, K nhờ một người tên N (không rõ nhân thân) đi bán giùm chiếc vòng. Một lúc sau, N cầm số tiền 3.600.000 đồng về đưa cho Đ. Đến trưa ngày 16/5/2022, Đ gặp Huỳnh Văn T3, sinh năm 1982, trú tại khu phố C, phường L, Tp P nhờ T3 đi bán giùm 01 chiếc vòng đeo tay bằng vàng, khi nhờ Đ nói với T3 vòng đeo tay của Đ. Sau đó, T3 đem chiếc vòng đeo tay này đến tiệm V1 của ông Nguyễn Công T4, sinh năm 1980, trú tại khu phố B, phường P, Tp P bán cho ông T4 với giá 5.000.000 đồng. T3 cầm tiền về đưa cho Đ. Sau khi bà T2 và ông T4 mua lại nhẫn và dây chuyền từ Q và T3 thì đã gửi vào thành phố Hồ Chí Minh để nấu lại.
Còn S, sau khi trộm cắp được tài sản, S đem bán 01 nhẫn vàng được 4.600.000 đồng, 01 sợi dây chuyền được 9.800.000 đồng, 01 chiếc vòng được 5.600.000 đồng và 01 mặt dây chuyền được 2.300.000 đồng ở các tiệm vàng khác nhau trong chợ P nhưng không nhớ cụ thể tiệm vàng nào. Số tiền bán vàng S đã tiêu xài hết.
Đến khoảng 12 giờ ngày 13/5/2022, bà Nguyễn Thị Kim Đ1 phát hiện bị mất trộm tài sản nên đã đến Công an phường Đ trình báo vụ việc. Công an phường Đ đã mời Đ và S về trụ sở để làm rõ vụ việc, tại đây Đ và S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng vụ án gồm:
- Nguyễn Văn Đ tự nguyện giao nộp: số tiền 20.000.000 đồng để bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim Đ1.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận:
- 01 mặt dây chuyền vàng Ý và 02 nhẫn vàng Ý trị giá 20.605.000 đồng;
- 02 vòng tay vàng Ý trị giá 50.700.000 đồng;
- 01 vòng tay vàng 18K trị giá 20.160.000 đồng;
- 01 dây chuyền vàng 18K trị giá 10.080.000 đồng;
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 101.454.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 365/CT-VKSPT-HS ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết quyết định, truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng S, Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Kim Đ1 yêu cầu Nguyễn Trọng S, Nguyễn Văn Đ bồi thường số tiền 101.454.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường cho bà Đ1 số tiền 50.727.000 đồng, bị cáo S và bị cáo Đ đồng ý bồi thường cho bà Đ1.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu quan điểm xử lý về vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Trọng S, Nguyễn Văn Đ, cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Trọng S từ 03 năm đến 04 năm tù giam.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim Đ1 yêu cầu Nguyễn Trọng S, Nguyễn Văn Đ bồi thường số tiền 101.454.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên cho bà Đ1 nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với Mai Anh Q, Lê Đào Trường K, Huỳnh Văn T3 và người tên N đã bán giúp Nguyễn Văn Đ bán 02 chiếc vòng đeo tay bằng vàng, 01 chiếc nhẫn bằng vàng và Lê Thị Tuyết T2, Nguyễn Công T4 là người mua nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không xem xét trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan điều tra Công an thành phố P và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và xem xét tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 13/5/2022 tại khu phố B, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận Nguyễn Văn Đ đã có hành vi đứng cảnh giới cho Nguyễn Trọng S lén lút đột nhập vào nhà bà Nguyễn Thị Kim Đ1 chiếm đoạt 01 mặt dây chuyền vàng Ý; 02 nhẫn vàng Ý; 02 vòng tay vàng Ý; 01 vòng tay vàng 18K; 01 dây chuyền vàng 18K với tổng giá trị tài sản là 101.454.000 đồng.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Với hành vi lén lút chiếm đoạt tổng giá trị tài sản là 101.454.000 đồng nên các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Đánh giá nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc cho chủ sở hữu, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn trong nhân dân. Do đó cần phải xử phạt để giáo dục và răn đe, phòng ngừa.
Xét các bị cáo trong vụ án có đồng phạm với tính chất giản đơn; trong đó đánh giá nhân thân, tính chất mức độ hành vi, vai trò đồng phạm của từng bị cáo có mức độ khác nhau, cụ thể:
[3.1] Nguyễn Trọng S đã bị xử phạt về tội: Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy nên có nhân thân xấu; là người rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội.
[3.2] Nguyễn Văn Đ đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị xử phạt về tội Trộm cắp tài sản nên có nhân thân xấu; là người làm nhiệm vụ cảnh giới cho bị cáo Nguyễn Trọng S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, có tính chất hạn chế hơn so với bị cáo S nên phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng khi lượng hình đối với các bị cáo. Đối với bị cáo Đ đã tự nguyện giao nộp số tiền 20.000.000 đồng để bồi thường một phần cho bị hại; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo Đ nhưng ở mức độ hạn chế.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo; Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử lý và áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, răn đe các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới; Đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Kim Đ1 yêu cầu Nguyễn Trọng S, Nguyễn Văn Đ bồi thường số tiền 101.454.000đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường cho bà Đ1 số tiền 50.727.000đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà Đ1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị cáo Đ đã nộp số tiền 20.000.000đồng tại cơ quan điều tra để bồi thường cho bà Đ1; số tiền này đã nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6] Đối với Mai Anh Q, Lê Đào Trường K, Huỳnh Văn T3 và người tên N đã bán giúp Nguyễn Văn Đ 02 chiếc vòng đeo tay bằng vàng, 01 chiếc nhẫn bằng vàng và Lê Thị Tuyết T2, Nguyễn Công T4 là người mua nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P không xử lý là có cơ sở.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Trọng S, Nguyễn Văn Đ, cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Trọng S 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05/7/2024.
Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày chấp thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Trọng S bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim Đ1 số tiền 50.727.000đồng.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim Đ1 số tiền 50.727.000đồng. Bị cáo Đ đã nộp 20.000.000đồng để bồi thường cho bà Đ1 theo giấy nộp tiền ngày 30/12/2024 nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án; số tiền 30.727.000 đồng còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bà Đ1.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành mà bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Căn cứ: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Trọng S phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.536.350đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.536.350đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của các bị cáo, bị hại là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Quách Văn Hoàng |
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP
