|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST Ngày 23-01-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng và bà Ngô Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tưởng -Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 638/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh ngày 03/8/1972.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư D, phường L, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
-
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Khu dân cư D, phường L, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt.
-
Người được chị Nguyễn Thị V ủy quyền về việc giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án:
Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990. Địa chỉ liên hệ: Số B T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
Chị Phạm Quỳnh A, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số C T, V, thành phố N, tỉnh Nam Định.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn - chị Nguyễn Thị V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K (nay là phường L, thị xã K), tỉnh Hải Dương vào năm 1991. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm, vợ chồng không hòa hợp. Giữa năm 2017 chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, khoảng cách địa lý khiến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Bản thân anh chị đã nhiều lần nói chuyện để tìm biện pháp hàn gắn tình cảm, gia đình hai bên cũng đã khuyên bảo nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị đã sống ly thân nhiều năm và không còn quan tâm đến nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng chị có bốn con chung là Nguyễn Thị N, sinh năm 1992, Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994, Nguyễn Thị Ánh N1, sinh năm 2002 và Nguyễn Tiến D, sinh ngày 21/02/2007. Hiện các con Nhâm, H1, N1 đã trưởng thành nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với con Nguyễn Tiến D chị đề nghị giao cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bị đơn - anh Nguyễn Văn T trình bày: Về quan hệ hôn nhân như chị V đã trình bày là đúng. Trong thời gian chị V đi nước ngoài, một mình anh ở nhà gánh vác công việc nội ngoại hai bên, chăm sóc, lo cho các con ăn học. Anh có tham gia với chị V về việc gửi tiền về để có trách nhiệm cùng anh trong cuộc sống hàng ngày nhưng chị V không nghe và chặn liên hệ của anh. Kể từ đó vợ chồng bất hòa, không quan tâm liên lạc nên tình cảm ngày càng lạnh nhạt. Nay chị V có đơn xin ly hôn, bản thân anh mong muốn vợ chồng hòa thuận cùng nuôi dạy con chung, nhưng nếu chị V kiên quyết thì anh cũng phải chịu và đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng anh có bốn con chung như chị V trình bày, hiện các con chung Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Ánh N1 đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tiến D, sinh ngày 21/02/2007, nhất trí việc chị V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Cháu Nguyễn Tiến D có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn.
2
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V, bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt đồng thời giữ nguyên các ý kiến đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Văn T; Về quan hệ nuôi con: Giao con chung Nguyễn Tiến D, sinh ngày 21/02/2007 cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị V cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi); Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết; Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Mặc dù không thể về Việt Nam tham gia tố tụng, nhưng các văn bản gồm: Đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn đề nghị giám định, đơn đề nghị thu thập tài liệu, chứng cứ, giấy ủy quyền và đơn xin giải quyết vắng mặt của chị V gửi đến Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã được giám định. Tại Kết luận giám định số 3957/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng K - Công an thành phố H đã kết luận: Dấu vân tay trong các tài liệu mà chị V gửi về so với dấu vân tay in trong tờ khai, danh chỉ bản chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Thị V là của cùng một người. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định các văn bản này là ý chí, nguyện vọng của chị V.
Tại phiên tòa, chị V, anh T vắng mặt và đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
3
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K (nay là phường L, thị xã K), tỉnh Hải Dương ngày 10/10/1991, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không thống nhất việc quản lý, chi tiêu kinh tế. Trên thực tế anh chị đã không còn quan tâm đến nhau. Bản thân anh T cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, không có biện pháp hàn gắn tình cảm và cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V và anh T đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị V.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn T có bốn con chung là Nguyễn Thị N, sinh năm 1992, Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994, Nguyễn Thị Ánh N1, sinh năm 2002 và Nguyễn Tiến D, sinh ngày 21/02/2007. Do cháu N, cháu H1, cháu N1 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu Nguyễn Tiến D hiện đang sống cùng anh T, cháu có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Bên cạnh đó, chị V và anh T đều đề nghị giao con chung Nguyễn Tiến D cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Do vậy để đảm bảo sự ổn định và phát triển về mọi mặt của con chung cũng như phù hợp với nguyện vọng của các đương sự, cần tiếp tục giao cháu D cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị V cấp dưỡng nuôi con cùng anh T 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu D tròn 18 tuổi.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 110; 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Văn T.
-
Về quan hệ con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Nguyễn Tiến D, sinh ngày 21/02/2007. Chị Nguyễn Thị V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 01/2025 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Chị V được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
4
Kể từ khi anh T có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con mà chị V không thi hành, thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật dân sự.
-
Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí do chị Phạm Quỳnh A đã nộp thay theo biên lai thu số 0005373 ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị V đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Chị Nguyễn Thị V còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
-
Về quyền kháng cáo: Chị V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
5
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
