|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày: 10/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Điệp
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và bà Trần Thị Liên
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Hoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Huấn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại nhà văn hóa khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh ngày 17/7/2001;
Nơi sinh, đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại:Khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương;
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Quang H1 và bà Nguyễn Thị H2; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Bản án hình sự số 41/2020/HS-ST, ngày 04/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt H 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản. H chấp hành xong Bản án ngày 04/9/2022. Đã được xoá án tích.
- Ngày 30/3/2020, Công an quận H, thành phố Hải Phòng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn H về hành vi xâm phạm đến sức khoẻ người khác. Đã được xoá.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/6/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Nguyễn Thị Ư – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; Địa chỉ: Số A 1, TP H, tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Sóng L, sinh năm 1959;Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1972; Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn H là người sử dụng ma tuý loại Methamphetamine từ năm 2020. Chiều ngày 26/5/2024, H đi đến địa bàn huyện N để tìm việc làm và có quen người thanh niên, theo H trình bày tên là T (Không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ). Tối ngày 29/5/2024, H và T cùng nhau sử dụng ma tuý tại một bờ đê (H không nhớ địa chỉ cụ thể). Sau khi sử dụng ma tuý, H cất bộ dụng cụ sử dụng ma tuý trong balo để hôm sau sử dụng tiếp. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/5/2024, H đang đi bộ tại khu vực cầu vợt 789 thuộc địa phận thành phố H thị gặp T1 đi xe máy. T bảo H sang khu vực huyện N để thuê nhà nghỉ cùng nhau sử dụng ma tuý. H đồng ý. T điều khiển xe chở H cầm theo chiếc balo bên trong có bộ dụng cụ sử dụng ma tuý hôm trước. T đưa H đến 01 quán bia và bảo H đợi tại đây để T đi mua ma tuý (H không nhớ địa chỉ). T cầm chiếc balo của H đi khoảng 01 tiếng sau thì quay lại. T bảo đã ma ma tuý để trong balo, đồng thời mở balo cho H xem bên trong có gói ma tuý đá và đưa balo cho H cầm. T chở H đến nhà nghỉ P ở thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương để thuê phòng sử dụng ma tuý. Đến nơi, T bảo H vào trong nhà nghỉ thuê phòng còn T đi tìm người sử dụng cùng. Hồi 12 giờ 25 phút cùng ngày, khi H cầm chiếc balo đi vào đến sảnh nhà nghỉ thì bị lực lượng Công an xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại ngăn ngoài cùng balo của H đang cầm có 01 túi nilon màu trắng kích thước 1,5cm x 2cm, bên trong túi nilon chứa tinh thể màu trắng. H trình bày đó là ma tuý đá, mục đích cất giấy để sử dụng cho bản thân. Thu giữ tại ngăn giữa balo 01 gói giấy màu trắng bên trong có nắp chai nhựa trắng gắn 01 ống hút nhựa, 01 ống bằng thuỷ tinh trong suốt, 01 đầu có bầu tròn. H trình bày đó là dụng cụ để sử dụng ma tuý đá. Lực lượng Công an đã thu giữ chiếc balo màu đen của H.
Tại Kết luận giám định số 271/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì, ghi thu của Lê Văn H, gửi đến giám định khối lượng là 0,152 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, do nghi ngờ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bị can, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện N đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Lê Văn H. Tại Kết luận giám định số 240/KLGĐ, ngày 30/8/2024 của V1, Bộ Y đã kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị can Lê Văn H có Hội chứng nghiện nhiều loại ma tuý. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F19.2. Tại các thời điểmtrên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Về vật chứng của vụ án:0,111gam ma tuý, loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại trong phong bì niêm phong số 271/KL-KLHS của Phòng K - Công an tỉnh H; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa màu trắng có nắp gắn 01 ống hút nhựa, 01 ống bằng thuỷ tinh trong suốt một đầu có bầu tròn; 01 chiếc ba lo màu đen thu giữ của Lê Văn H đang được quản lý tại kho vật chứng chờ xử lý.
Tại Cáo trạng số 50/CT-VKS-NS ngày 31/10/2024 Viện kiểm sát nhân huyện N, tỉnh Hải Dương truy tố Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm p, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị: Xử phạt bị cáo Lê Văn H3 12 đến 15 thángtù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 30/5/2024; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 0,111gam ma tuý, loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại trong phong bì niêm phong số 271/KL-KLHS của Phòng K - Công an tỉnh H; Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa màu trắng có nắp gắn 01 ống hút nhựa, 01 ống bằng thuỷ tinh trong suốt một đầu có bầu tròn; 01 chiếc balo màu đen; Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo: Xác định về tội danh Viện kiểm sát truy tố và điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng. Tuy nhiên, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, lại là người khuyết tật về thần kinh – tâm thần ở mức độ nặng nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm s, p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề xuất là 12 tháng tù. Miền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 25 phút ngày 30/5/2024, tại sảnh nhà nghỉ P ở thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương, Lê Văn H có hành vi cất giấu trong balo của H đang cầm 01 gói ma tuý kích thước 1,5cm x 2cm, bên trong có 0,152gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã H bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 240/KLGĐ, ngày 30/8/2024 của V1, Bộ Y đã kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, Lê Văn H có Hội chứng nghiện nhiều loại ma tuý, tại các thời điểm trên H đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Như vậy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được M là một loại chất ma tuý, Nhà nước cấm lưu hành, nhưng bị cáo vẫn cố tình cất giấu 0,152 gam Methamphetamine để sử dụng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Ma túy loại Methamphetamine có tác hại rất lớn đến con người cũng như toàn xã hội. Nó không chỉ là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS mà còn là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2020 bị cáo Hậu bị Toà án nhân dân huyện Nam Sách xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản và bị Công an quận H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khoẻ người khác. Tuy đã được xoá nhưng bị cáo không lấy đó là bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người khuyết tật nặng, đã có giấy chứng nhận khuyết tật do Chủ tịch UBND phường H, thành phố C cấp 10/3/2003; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, công việc, thu nhập không ổn định, bị cáo lại là người khuyết tật, khó khăn về tài chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với 0,111gam ma tuý, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định là chất cấm lưu hành, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa màu trắng có nắp gắn 01 ống hút nhựa, 01 ống bằng thuỷ tinh trong suốt một đầu có bầu tròn; 01 chiếc balo màu đen không còn giá trị sử dụngcần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8] Quá trình điều tra, bị cáo H có khai tối ngày 29/5/2024 bị cáo có sử dụng ma tuý cùng với T tại một bờ để, tuy nhiên không chứng minh được nọi dung này nên không có căn cứ xử lý.
[9] Người đàn ông tên T bị cáo khai đã cùng sử dụng ma tuý với bị cáo, quá trình điều tra không làm rõ được nên không đặt ra xử lý là phù hợp pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm p, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí, lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 0,111gam ma tuý, loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa màu trắng có nắp gắn 01 ống hút nhựa, 01 ống bằng thuỷ tinh trong suốt một đầu có bầu tròn; 01 chiếc ba lo màu đen(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách)
- Về án phí: Bị cáo Lê Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Điệp |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Hậu TTTPCMT
