Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 49/2024/HNGD-ST

Ngày: 09-12-2024

Về việc: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Trung

Bà Nguyễn Thị Lan

- Thư ký toà án ghi biên bản phiên tòa: Nguyễn Thu Trà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 225/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, về việc: Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QÐST-HNGĐ ngày 22/11/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985, vắng mặt.

Trú tại: Tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, Sinh năm 1976, vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ B, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Chị và Anh Nguyễn Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/8/2007 tại UBND xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình nay là phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, anh L thường xuyên rượu chè, cờ bạc, không quan tâm gì đến vợ con, thường xuyên chửi mắng đánh đập chị Q. Từ ngày 20/9/2016, anh L đã bỏ nhà đi làm ăn xa, ít về nhà, thỉnh thoảng có gọi điện hỏi thăm con. Hiện tại, anh L đi làm ăn ở đâu chị không biết, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị Q thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo Lâm S ngày 22 tháng 10 năm 2007. Chị Q có nguyện vọng được nuôi con và chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con;

- Về tài sản chung: Không có, không đề nghị tòa án giải quyết;

- Công nợ chung: Không có, không đề nghị tòa án giải quyết;

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q tự nguyện chịu trách nhiệm nộp án phí ly hôn theo quy định.

Quá trình giải quyết, bị đơn anh Nguyễn Văn L đều vắng mặt. Tòa án không thể thực hiện việc cấp, tống đạt cho Anh L về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; thông báo về kết quả các phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết theo quy định và tiến hành xác minh như sau:

Bà Trần Thị N - Tổ trưởng tổ B, phường Q, thành phố H cung cấp như sau: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1976 có tên trong sổ hộ khẩu của hộ bà Đinh Thị T tại địa chỉ tổ B, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Tuy nhiên, gia đình không cung cấp thông tin căn cước công dân và thông tin cụ thể của anh L tại địa phương. Theo như quan sát tại địa phương anh L không sinh sống tại địa phương, địa chỉ tổ B, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Anh sinh sống tại đâu, tôi không nắm rõ. Thỉnh thoảng, tôi thấy anh L về thăm mẹ.

Bà Đinh Thị T là mẹ đẻ của Anh Nguyễn Văn L cung cấp như sau: Ngày 09/8/2007, chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Gia đình bà có tổ chức cưới hỏi cho hai cháu. Tuy nhiên, sau khi kết hôn hai cháu không ở cùng gia đình bà tại tổ B, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, mà sinh sống ở gia đình nhà vợ tại tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Từ năm 2018, sau khi chồng bà mất, chị Q đã đi làm ăn xa nên hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Do chán nản, tình cảm không còn với vợ, anh L không ở nhà vợ nữa, mà trở về gia đình tôi tại tổ B, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Sau đó, anh L đi làm ăn xa, địa chỉ cụ thể ở đâu là tôi không biết, cháu không nói rõ. Thỉnh thoảng, anh L có về nhà 1-2 lần/tháng. Hai vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Bảo Lâm sinh ngày 22 tháng 10 năm 2007. Hiện nay, cháu đang sống cùng bà ngoại tại tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Về tài sản chung, công nợ chung không có. Việc chị Q nộp đơn ly hôn anh L tại toà, bà tôn trọng ý kiến các con, mong các con suy nghĩ kỹ và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Bà Nguyễn Thị L1 - Tổ trưởng tổ dân phố C, phường T, thành phố H cung cấp như sau: Anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Q có đăng ký kết hôn và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phố C, phường T. Hiện nay, cả hai anh chị đều đang không có mặt tại địa phương, thỉnh thoảng mới về nhà thăm gia đình. Về quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng theo xác minh tại gia đình cả hai đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn, vợ chồng đã sống ly thân, cả hai đi làm ăn xa, ở đâu bà không biết rõ. Thỉnh thoảng, cả hai vợ chồng có về thăm con, vì con đang ở cùng dì và bà ngoại.

Bà Nguyễn Thị X– Mẹ đẻ chị Nguyễn Thị Q cung cấp như sau: Ngày 09/8/2017, hai cháu Q và L có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình, có tổ chức cưới hỏi. Sau khi kết hôn hai cháu sinh sống tại gia đình bà ở tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Trong quá trình chung sống, hai con thường xuyên cãi vã nhau, mâu thuẫn trầm trọng. Cả hai đi làm ăn xa một thời gian dài. Cháu Q làm ở Bắc Ninh, còn cháu L làm ở đâu tôi không biết rõ. Về tài sản chung, công nợ chung không có. Về việc hai con ly hôn, tôi không có ý kiến gì, chỉ mong cháu L2 được ở cùng gia đình tôi, để gia đình nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Thị Q1 - Em gái ruột và ở gần nhà chị Nguyễn Thị Q cung cấp như sau: Ngày 09/8/2017 chị Q và anh L có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Gia đình có tổ chức cưới hỏi cho hai anh chị. Sau khi kết hôn hai anh chị sinh sống ở tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng không được hạnh phúc, vì khó khăn kinh tế nên luôn cãi nhau, mâu thuẫn trầm trọng. Đã một thời gian dài, hai vợ chồng đã đi làm ăn xa, không ở cạnh nhau. Hiện nay, chị Q đang đi làm ở công ty B, còn anh L đi làm ở đâu tôi không biết rõ. Anh chị có 01 con chung tên là Nguyễn Bảo Lâm sinh ngày 22 tháng 10 năm 2007. Về tài sản chung, công nợ chung không có.

Tại phiên tòa, chị Q có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân căn cứ thực trạng hôn nhân giữa vợ chồng chị Q anh L đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Q xử cho Chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với Anh Nguyễn Văn L. Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Bảo Lâm sinh ngày 22 tháng 10 năm 2007. Giao cháu L2 cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác, Chị Q chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Q khai không có gì, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chấp nhận chị Q tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân gia đình, cụ thể là về việc ly hôn. Đồng thời, bị đơn Anh Nguyễn Văn L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành gửi các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Sau khi đã điều tra xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án :

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q và Nguyễn Văn L là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn. Chị Q cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Anh L đã bỏ đi làm ăn xa, sinh sống ở đâu chị không biết, thỉnh thoảng có về và có gọi điện hỏi thăm con. Vợ chồng sống ly thân không còn sống chung. Nay, chị Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L. Hội đồng xét xử xét thực trạng cuộc sống chung vợ chồng Chị Q và Anh L, qua kết quả xác minh cho thấy cuộc sống chung tồn tại rất nhiều mâu thuẫn, anh L bỏ đi làm ăn xa, rất ít khi về thăm gia đình. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn, không có cuộc sống chung. Từ nhận định trên thấy rằng, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Q.

Về con chung Chị Q và Anh L có 01 con chung là Nguyễn Bảo Lâm sinh ngày 22 tháng 10 năm 2007. Xét thấy Chị Q có nguyện vọng nuôi con và chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung, về phía Anh L đi làm ăn xa, không thường xuyên về thăm gia đình. Do đó, để tạo điều kiện tốt nhất cho cháu được phát triển toàn diện về mặt thể chất và tinh thần, cần giao con cho chị Q chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định tại các điều 58; 81; 82; 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân Thành phố Hòa Bình là phù hợp.

Chị Q chưa yêu cầu Anh L cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Q khẳng định vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn Chị Q tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, sự tự nguyện phù hợp pháp luật, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Nguyễn Thị Q ly hôn Anh Nguyễn Văn L.
  2. Về con chung: Giao con là Nguyễn Bảo Lâm sinh ngày 22 tháng 10 năm 2007 cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh Nguyễn Văn L có quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở và có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Chị Q chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q tự nguyện nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo Biên lai số 0000493 ngày 23/7/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Q, Anh Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhân

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND thành phố HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Chi cục THADS thành phố HB;
  • - UBND p.Trung Minh, Hoà Bình.
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HNGD-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HOÀ BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 49/2024/HNGD-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HOÀ BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn Nguyễn Thị Quý - Nguyễn Văn Lương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger