|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày 05-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hòa
- Ông Trần Huy Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Kiều Thanh Thật - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 24/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 13/11/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Đức H (tên gọi khác: Không có); Sinh ngày 15 tháng 5 năm 2003; Tại: Huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Nơi thường trú: Ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Chí T và bà Mã Thị Thu V; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có; Bị cáo Nguyễn Đức H bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 24/6/2024 đến ngày 03/7/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt).
- Sơn T1 (tên gọi khác: Không có); Sinh ngày 29 tháng 11 năm 1998 tại: Thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Số A, đường K, khóm C, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sơn S và bà Lâm Thị Minh N; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: 01 tiền án (Ngày 17/11/2022, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt bị cáo một năm tù về tội Hủy hoại tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 30/7/2023, chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 22/7/2014, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt bị cáo Sơn T1 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 31/8/2015 và đã được xóa án tích; Ngày 24/12/2019, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 20 tháng; Ngày 22/11/2021, Công an thành phố S xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.500.000 đồng, về hành vi hủy hoại tài sản. Bị cáo Sơn T1 bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 24/6/2024 đến ngày 03/7/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Trần Văn C, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- - Ông Thạch Hoàng G, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số F, đường P, khóm C, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- - Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số A, đường T, khóm D, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 24/06/2024, Trần Văn C sử dụng tài khoản Zalo tên “Satcohon” điện thoại qua tài khoản Zalo tên “ Huy N1” của bị cáo Nguyễn Đức H hỏi mua ma túy đá 25 số, H ra giá bán là 2.200.000 đồng, C đồng ý, hẹn giao ma túy tại đoàn lô tô đang hoạt động tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi điện thoại, bị cáo H lấy xe biển số 83X1-038.03 đi từ nhà lên thành phố S, chạy vào hẻm S đường T, đến nhà số A thuộc khóm D, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng do Thạch Hoàng G thuê nhà của ông Hoàng Văn L để nuôi gà. G có thuê bị cáo Sơn T1 nuôi gà nên khi đến thì T1 mở cửa cho H vào nhà, H và T1 ngồi nói chuyện một lúc thì T1 có kêu H nạp game cho T1 100.000 đồng. Nạp tiền cho T1 xong, H vào phòng gặp một người nữ tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 25 số ma túy đá với giá 2.000.000 đồng. B đưa cho H hai bịch ma túy (gồm một bịch ma túy lớn được đựng trong bịch nylon trong suốt và một bịch ma túy nhỏ cũng được đựng trong bịch nylon trong suốt). Bị cáo H đi xin băng keo của bị cáo T1 để quấn bịch ma túy lớn lại. Sau đó, H rủ T1 đi bán ma túy cùng với H và hứa khi đi về sẽ cho T1 một ít ma túy để sử dụng nên T1 đồng ý. H điều khiển xe chở T1 xuống T để giao ma túy cho C, trên đường đi đến đoạn Nghĩa trang liệt sĩ huyện M thì C có điện thoại cho H, do đang chạy xe nên H kêu T1 nghe máy và bị cáo T1 trả lời là “gần tới rồi đừng điện nữa”, khi gần tới công ty Ú thì C điện một lần nữa, T1 cũng trả lời “gần tới rồi, đừng điện nữa”. Khi chạy đến đoạn ngã ba xã T, H điều khiển xe rẻ về hướng đường đi thị xã V, chạy qua đoàn lô tô một đoạn, đến gần cửa hàng X thuộc ấp C, xã T thì dừng lại. Bị cáo T1 nói với bị cáo H là để cho T1 điều khiển xe nên H đồng ý. Bị cáo T1 điều khiển xe chở H quay đầu lại chỗ đoàn lô tô để đợi Chình ra lấy ma túy, lúc này H điện thoại cho C để kêu Chình ra lấy ma túy, đang đợi thì cả hai bị cáo T1 và H phát hiện có công an nên bị cáo T1 tăng ga bỏ chạy sang bên đường, cả hai bị cáo bị lực lượng công an chặn lại ngã xe, T1 bị công an bắt lại, H bỏ chạy và ném hai bịch ma túy xuống đất nhưng bị lực lượng công an bắt lại và tạm giữ hai bịch ma túy và lập biên bản quả tang và thu giữ các đồ vật có liên quan.
Tại Kết luận giám định số 131/KLMT-KTHS ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Phòng K công an tỉnh S kết luận như sau: Gói 01: Mẫu tinh thể rắn trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8222 gam, loại Methamphetamine; Gói 02: Mẫu tinh thể rắn trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,3318 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng của 02 gói ma túy là 2,154 gam, loại Methamphetamine (BL số 46).
Qua điều tra bị cáo Nguyễn Đức H tự thú việc bán ma túy vào ngày 17/6/2024, bị can có bán ma túy cho Trần Văn C với giá 900.000 đồng tại khu vực đối diện Nghĩa trang liệt sĩ huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Về vật chứng, Cơ quan điều tra thu giữ, xử lý:
- - Gói 1: 0,7718 gam và Gói 2 : 1,2276 gam ma túy loại methamphetamine còn lại sau giám định.
- - 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, loại Winner biển kiểm soát 83X1-038.03 (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) cây kéo bằng kim loại (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) hột quẹt gas màu đỏ (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) hột quẹt gas màu xanh (đã qua sử dụng);
- - 17 (mười bảy) bịch nilon trong suốt có kích thước (25x4)cm;
- - 01 (một) cây dao bấm bằng kim loại dài 21cm, lưỡi nhọn dài 8cm, chiều rộng lớn nhất 2cm;
- - 01 (một) túi đeo chéo màu xanh, trên túi có logo màu đỏ ghi chữ “Glado” màu trắng.
* Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H thống nhất với kết luận giám định, bị cáo H khai nhận: Vào chiều ngày 24/6/2024 C điện thoại cho bị cáo hỏi mua ma túy 25 số ma túy, bị cáo ra giá 2.200.000 đồng và bị cáo điện thoại cho Sơn T1 thì T1 kêu bị cáo chạy lên chỗ T1 cho dễ nói chuyện nên bị cáo lấy chiếc xe biển số 83X1-038.03 chạy lên chỗ T1 ở Sóc Trăng thì gặp T1 và bà B nên bị cáo hỏi mua ma túy 25 số thì bà B nói 2.000.000 đồng, sau đó đem ma túy hai bịch ma túy nên bị cáo rủ T1 cùng đi bán ma túy và bị cáo hứa cho ma túy T1 sử dụng vì trước khi mua ma túy bị cáo đã cho T1 100.000 đồng thì T1 đồng ý. Sau khi mua ma túy bị cáo cùng T1 đi giao ma túy cho C ở xã T, trong lúc đợi Chình ra lấy ma túy do thấy Công an nên bị cáo và T1 bỏ chạy thì bị Công an bắt thu giữ 02 bịch ma túy vừa mua. Ngoài lần bán ma túy cùng với T1 thì trước đó vào ngày 17/6/2024, bị cáo có bán ma túy cho Trần Văn C với giá 900.000 đồng tại khu vực đối diện Nghĩa trang liệt sĩ huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
* Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Sơn T1 thống nhất với kết luận giám định, bị cáo T1 khai nhận: Vào ngày 24/6/2024 H có điện thoại cho bị cáo có nhà không một chút H ghé, đến khoảng 16 giờ cùng ngày H đến và gặp bà B, sau khi gặp bà B thì bị cáo thấy trên tay H cầm hai bịch ma túy và H rủ đi giao ma túy nên bị cáo đồng ý vì H hứa sẽ cho ma túy bị cáo sử dụng và H đã cho bị cáo 100.000 đồng để nạp tiền chơi game. Trên đường đi giao ma túy người mua ma túy có điện thoại hỏi H, do H bận chạy xe nên H kêu bị cáo trả lời là gần tới rồi, đừng điện nữa, sau đó bị cáo và H chạy đến gần đoàn lô tô, H điện thoại cho người mua ma túy, lúc này bị cáo mới nói với H là cho bị cáo chạy xe nên H đồng ý, H kêu bị cáo chạy đến đoàn lô tô để giao ma túy nhưng do bị cáo thấy công an nên bị cáo tăng ga bỏ chạy thì bị công an bắt cùng với H và ma túy.
* Trong quá trình điều tra ông Trần Văn C khai nhận: Vào ngày 24/6/2024 ông có điện thoại cho bị cáo H hỏi mua ma túy 25 số, H ra giá 2.200.000 đồng thì ông đồng ý và hẹn H giao ma túy ở ngã ba T gần đoàn lô tô, sau đó ông có gọi cho H để hỏi tới đâu rồi thì có người lạ trả lời là đang xuống, gần tới rồi. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì có cuộc gọi lại cho ông nói là tới rồi kêu ông ra lấy ma túy, khi ông ra chỗ đoàn lô tô thì thấy lực lượng công an nên ông bỏ chạy. Ngoài ra trước đây ông có mua ma túy của H thêm một lần nữa, lần đó ông mua 900.000 đồng ma túy và H giao ma túy cho ông tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện M và ông đã đưa tiền cho H xong.
* Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ông Thạch Hoàng G khai nhận: Căn nhà 195/15 đường T là ông thuê của ông Hoàng Văn L để nuôi gà, quá trình thuê có ở với T1, bà B vào ban ngày còn ban đêm ông giao nhà cho T1, ông về nhà ở phường H, thành phố S để ở, ông biết T1 và bà B có sử dụng ma túy, còn việc họ có mua bán hay không thì ông không biết.
* Trong quá trình điều tra ông Hoàng Văn L khai nhận: Căn nhà 195/15 đường T là của ông nhưng cho Thạch Hoàng G thuê, còn việc G dùng căn nhà để sử dụng ma túy hay mua bán ma túy thì ông không biết cho đến khi Công an phường B1 thông báo cho ông biết căn nhà ông cho thuê có người liên quan đến ma túy và G chậm trả tiền thuê nhà nên ông không cho G thuê nữa.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKSTĐ ngày 23/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã: Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để xét xử các bị cáo:
- - Bị cáo Nguyễn Đức H về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung 2017).
- - Bị cáo Sơn T1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Đối với bị cáo Nguyễn Đức H: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổ bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 07 năm đến 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- + Đối với bị cáo Sơn T1: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sơn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổ bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Sơn T1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Đồng thời xử lý về vật chứng, án phí theo quy định.
Nói lời sau cùng tại phiên tòa, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn C, Hoàng Văn L tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 292 và 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về tội danh: Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa cho thấy các bị cáo Nguyễn Đức H, Sơn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Lời thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Các bị cáo Nguyễn Đức H, Sơn T1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự các bị cáo là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và để có tiền phục vụ cho việc sử dụng ma túy của mình nên các bị cáo đã mua ma túy sau đó có các bị cáo đem bán lại, cụ thể như sau:
- - Đối với Nguyễn Đức H: Vào ngày 24/6/2024 khi Trần Văn C liên hệ bị cáo để mua ma túy 25 số thì bị cáo ra giá ra giá 2.200.000 đồng, khi C đồng ý thì bị cáo đã điều khiển chiếc xe biển số 83X1-038.03 chạy lên chỗ T1 ở thành phố S để gặp T1 và bà B, khi đó bị cáo hỏi mua ma túy 25 số thì bà B nói 2.000.000 đồng, sau khi mua ma túy bị cáo rủ T1 cùng đi giao ma túy (bán ma túy) cho C ở xã T, trong lúc đợi Chình ra lấy ma túy do thấy Công an nên bị cáo và T1 bỏ chạy thì bị Công an bắt thu giữ 02 bịch ma túy vừa mua. Ngoài ra bị cáo một mình bán ma túy cho Trần Văn C với giá 900.000 đồng tại khu vực đối diện Nghĩa trang liệt sĩ huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Cho nên hành vi của bị cáo Nguyễn Đức H đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề truy tố: Bị cáo Nguyễn Đức H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- - Đối với Sơn Thiện: Vào ngày 24/6/2024 Nguyễn Đức H có liên hệ bị cáo hỏi bà B có nhà không để mua ma túy, khi H đến chỗ bị cáo có cho bị cáo 100.000 đồng và H vào gặp bà B để mua túy, sau khi mua ma túy thì H rủ bị cáo đi giao ma túy và hứa cho bị cáo sử dụng nên bị cáo đồng ý, trên đường đi giao ma túy thì có người mua ma túy điện thoại lại hỏi thì H kêu bị cáo trả lời, khi H chở bị cáo đến điểm giao ma túy ở xã T, trong lúc đợi người ra lấy ma túy thì bị cáo và H đổi tay lái nhưng do thấy Công an nên bị cáo và H bỏ chạy thì bị Công an bắt thu giữ 02 bịch ma túy vừa mua. Như vậy hành vi của bị cáo Sơn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề truy tố: Bị cáo Sơn T1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Đức H, S là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý về các chất ma túy của Nhà nước đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Trong vụ án này các không có sự bàn bạc, phân công vai trò nên thuộc đồng phạm giản đơn. Do đó, cần xử phạt các bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời còn răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[5] Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo như sau:
- - Đối với bị cáo Nguyễn Đức H: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự khai ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà chưa bị phát hiện. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo, để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
- - Đối với bị cáo Sơn T1: Bị cáo Sơn T1 có một tiền án về tội “Hủy hoại tài sản” theo bản án số 144/2022/HS-ST ngày 17/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng bị xử phạt 01 (một) năm tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 30/07/2023 chưa được xóa án tích nên thuộc tình tiết tái phạm. Bên cạnh đó bị cáo có nhân thân xấu (Năm 2014, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản, đã được xóa án tích; Năm 2019, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 20 tháng và năm 2021, Công an thành phố S xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.500.000 đồng). Nhưng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc Khmer, trình độ học vấn thấp (lớp 3/12). Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với các vật chứng: Gói 1: 0,7718 gam và Gói 2: 1,2276 gam ma túy loại methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) cây kéo bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 (một) hột quẹt gas màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) hột quẹt gas màu xanh (đã qua sử dụng); 17 (mười bảy) bịch nilon trong suốt có kích thước (25x4)cm; 01 (một) cây dao bấm bằng kim loại dài 21cm, lưỡi nhọn dài 8cm, chiều rộng lớn nhất 2cm; 01 (một) túi đeo chéo màu xanh, trên túi có logo màu đỏ ghi chữ “Glado” màu trắng. Xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, do đó căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với các vật chứng: 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, loại Winner biển kiểm soát 83X1-038.03 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh (đã qua sử dụng). Xét thấy, đây là các tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức H và bị cáo dùng để phục vụ cho việc mua bán ma túy cho nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với số tiền bị cáo H bán ma túy 900.000 đồng cho Trần Văn C cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.
[8] Đối với Trần Văn C là người mua ma túy của H, tuy nhiên đã bị ngăn chặn, C chưa mua được ma túy, nên không xử lý đối với C. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an địa phương xử lý theo quy định.
[9] Đối với Thạch Hoàng G là người ở chung nhà với T1, tại thời điểm H đến mua ma túy thì G đã dọn đi nơi khác, G không biết việc H mua ma túy của người nữ tên B, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý gì với G.
[10] Đối với người nữ tên B là người bán ma túy cho H do thông tin về người này quá ít, chưa thể xác định được người này là ai, ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ.
[11] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Đức H, Sơn T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Đức H.
- * Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Sơn T1.
- * Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức H, Sơn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- * Xử phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 08 (tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2024.
- - Xử phạt bị cáo Sơn T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2024.
- * Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- - Gói 1: 0,7718 gam và Gói 2 : 1,2276 gam ma túy loại methamphetamine còn lại sau giám định.
- - 01 (một) cây kéo bằng kim loại (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) hột quẹt gas màu đỏ (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) hột quẹt gas màu xanh (đã qua sử dụng);
- - 17 (mười bảy) bịch nilon trong suốt có kích thước (25x4)cm;
- - 01 (một) cây dao bấm bằng kim loại dài 21cm, lưỡi nhọn dài 8cm, chiều rộng lớn nhất 2cm;
- - 01 (một) túi đeo chéo màu xanh, trên túi có logo màu đỏ ghi chữ “Glado” màu trắng.
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:
- - 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, loại Winner biển kiểm soát 83X1-038.03 (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh (đã qua sử dụng)
- * Buộc bị cáo Nguyễn Đức H nộp tiền thu lợi bất chính 900.000 đồng mua bán trái phép chất ma túy để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- * Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Đức H, Sơn T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- * Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.
(Các vật chứng và tài sản trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/10/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa Lý Công Minh |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức H, Sơn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. * Xử phạt: - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 08 (tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2024. - Xử phạt bị cáo Sơn T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2024.
