Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Phúc Tuệ, nguyên là cán bộ công đoàn Phòng Giáo dục huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

2. Bà Bùi Thị Kim Nhung, Bí thư Huyện đoàn Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Đức Hải, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Đức H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14/11/2006, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình.(Tính đến ngày phạm tội 17 tuổi 01 tháng 15 ngày)

Nơi cư trú: Tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; con ông Lê Đức T và bà Nguyễn Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngoài lần thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng lần này chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T2 hoãn xuất cảnh từ ngày 23/7/2024 cho đến nay, theo Giấy triệu tập có mặt tại phiên tòa.

2. Ngô Long N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 11/01/2007, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình.(Tính đến ngày phạm tội 16 tuổi 11 tháng 18 ngày)

Nơi cư trú: Thôn Q, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Ngô Dương T3 và bà Đinh Thị H1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngoài lần thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng lần này chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T2 hoãn xuất cảnh từ ngày 23/7/2024 cho đến nay, theo Giấy triệu tập có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Thái H2 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/5/2006, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình.(Tính đến ngày phạm tội 17 tuổi 07 tháng 14 ngày)

Nơi cư trú: Tiểu khu A, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; con ông Lê Thanh H3 (chết) và bà Lê Thị Thanh N1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngoài lần thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng lần này chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T2 hoãn xuất cảnh từ ngày 23/7/2024 cho đến nay, theo Giấy triệu tập có mặt tại phiên tòa.

4. Đinh Công T4 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 26/7/2006, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình.(Tính đến ngày phạm tội 17 tuổi 05 tháng 03 ngày)

Nơi cư trú: Thôn Q, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đinh Minh T5 và bà Mai Thị V; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngoài lần thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng lần này chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/7/2024 và Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 25/7/2024 cho đến nay, theo Giấy triệu tập có mặt tại phiên tòa.

5. Trần Anh T6 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/7/2007, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình. (Tính đến ngày phạm tội 16 tuổi 05 tháng 08 ngày).

Nơi cư trú: Thôn Q, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; con ông Trần Văn L và bà Ngô Thị Đ; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngoài lần thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng lần này chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/7/2024 và Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 25/7/2024 cho đến nay, theo Giấy triệu tập có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Đinh Duy Q, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2008; địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
  2. Đinh Duy M, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2008; địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện M, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  3. Lê Thị Thanh T7, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1976; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  4. Trần Thị Minh P, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2008; địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  5. Đinh Thị L1, sinh ngày 06 tháng 01 năm 1979; địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện M, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Đức T, sinh năm 1978 (Cha đẻ của bị cáo Lê Đức H), địa chỉ: Tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
  2. Ông Ngô Dương T3, sinh năm 1981 (Cha đẻ của bị cáo Ngô Long N), địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
  3. Bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1980 (Mẹ đẻ của bị cáo Trần Anh T6), địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
  4. Bà Mai Thị V, sinh năm 1978 (Mẹ đẻ của bị cáo Đinh Công T4), địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
  5. Bà Lê Thị Thanh N1, sinh năm 1981 (Mẹ đẻ của bị cáo Lê Thái H2), địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình,có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Đinh Thị Liên H4, sinh năm 1980 (mẹ đẻ của Đinh Duy Q); địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
  2. Anh Đinh Tiến Đ, sinh năm 1970 (cha đẻ của Đinh Duy M); địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Trần Xuân S, sinh ngày 17/6/2007; địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình,vắng mặt.
  2. Dương Anh T8, sinh ngày 29/7/2007; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình,vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người làm chứng:

  1. Bà Trần Thị Dương L2, sinh năm 1983 (mẹ đẻ của người làm chứng Nguyễn Trần Xuân S), địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  2. Bà Dương Thị Bích T9, sinh năm 1989 (mẹ đẻ của người làm chứng Dương Anh T8), địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Đại diện Trường trung học phổ thông T11: Bà Cao Thị Bích H5, sinh năm 1978; chức danh: Giáo viên chủ nhiệm, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoản 16 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, Lê Đức H cùng với Ngô Long N, Trần Anh T6, Đinh Công T4 đang ngồi chơi tại quán G ở Tiểu khu B, thị trấn Đ, huyện T thì N nhận được tin nhắn của Mai Quốc Q1 với nội dung “Có nhóm thanh niên người Minh Hóa ra độ xe”, sau đó N hỏi với cả nhóm về nội dung trên và cùng mọi người đi tìm nhóm thanh niên người huyện Minh Hóa. Lúc này H, T4, T6 nghe nhưng ai nói gì. Sau đó, H gọi điện cho Lê Thái H2 với nội dung “Có nhóm thanh niên người Minh Hóa ra độ xe” và gọi H2 đến quán G để cùng tham gia đi tìm. Lúc này, vì nghi ngờ nhóm thanh niên người ở huyện M trước đây rượt đuổi nhóm của H, nên H điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát chở theo N; H2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73B1-384.53 chở T4; T6 điều khiển xe máy biển kiểm soát 73AC- 015.66 đi tìm nhóm thanh niên người ở huyện M để đánh. Khi đi đến đoạn đường thuộc tiểu khu D, thị trấn Đ, huyện T thì xe của H2 chở T4 phát hiện Đinh Duy Q điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 73AB- 008.55 chở Đinh Duy M và Nguyễn Trần Xuân S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22F1-038.10 chở Dương Anh T8 cùng trú tại huyện M, tỉnh Quảng Bình nên nhóm của H, N, T4, H2, T6 cùng nhau chạy xe đuổi theo nhóm của Q, M, S, T8 theo hướng thị trấn Đ, huyện T đi huyện M. Qúa trình rượt đuổi, nhóm của H la hét, yêu cầu Q và M dừng xe lại nhưng Q và M tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy lên trước đầu xe của H và N. Lúc này H lấy mũ bảo hiểm trên đầu của mình ném về xe của M và Q nhưng không trúng, Q tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy. Khi đến KM 72+200 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn Y, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình thì xe của H chở theo N đuổi kịp xe máy của Q chở theo M, lúc này H điều khiển xe áp sát và cùng N dùng chân đạp vào xe máy và người của Q, M nhưng không ngã. H tiếp tục điều khiển xe vượt lên rồi cùng N tiếp tục dùng chân đạp trúng xe và người của Q và M làm xe mất lái tông vào thành hộ lan bên phải đường, người và xe ngã trượt trên mặt đường. Thấy vậy, N, H, H2, T4, T6 quay đầu xe bỏ chạy về hướng thị trấn Đ Sau đó, Đinh Duy M, Đinh Duy Q được đưa đi cấp cứu, điều trị tại cơ sở Y . Xe máy biển kiểm soát 73AB- 008.55 bị hư hỏng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 23 ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng huyện T, xác định: Phần hư hỏng của xe gắn máy biển kiểm soát 73AB- 008.55 nhãn hiệu SAKI MOTOR, số loại KARIK, màu sơn đỏ đen, có giá trị là 1.930.000 đồng.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • Một xe gắn máy biển kiểm soát 73AC- 015.66, nhãn hiệu HDYA, số loại Sirus, màu sơn đen, đã qua sử dụng (tạm giữ của Trần Anh T6).
  • Một xe gắn máy biển kiểm soát 73AB – 008.55, nhãn hiệu KARIK, số loại Sirus, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng (tạm giữ của Đinh Duy M).
  • Một xe mô tô không biển kiểm soát, không có tem nhãn, màu sơn đen trắng, số khung RLCE55P0BY027513, số máy 55P1-027514, đã qua sử dụng (tạm giữ của Lê Đức H).
  • Một xe mô tô biển kiểm soát 73B1-384.53, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu sơn trắng đen bạc, đã qua sử dụng (tạm giữ của Lê Thái H2).
  • Một mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, trên bề mặt có nhiều vết xước trượt (tạm giữ của Lê Đức H).

Ngày 31/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lai chiếc xe máy biển kiểm soát 73AB- 008.55 cho chủ sở hữu hợp pháp bà Đinh Thị L1.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo Lê Đức H, Ngô Long N, Đinh Công T4, Lê Thái H2, Trần Anh T6 và gia đình các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản cho Đinh Duy M và Đinh Duy Q. Đinh Duy M, Đinh Duy Q và đại diện hợp pháp đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bản Cáo trạng số 44/CT-VKSTH-HS ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa truy tố bị cáo Lê Đức H về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Ngô Long N, Đinh Công T4, Lê Thái H2 và Trần Anh T6 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức H từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2024; áp dụng khoản 1 Điều 318, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 47, Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 100 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Long N từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; áp dụng khoản 1 Điều 318, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 47, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 99 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thái H2 từ 15 đến 20 triệu đồng, xử phạt bị cáo Đinh Công T4 từ 15 đến 20 triệu đồng, xử phạt bị cáo Trần Anh T6 từ 15 đến 20 triệu đồng; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, trên bề mặt có nhiều vết xước trượt; trả lại các xe mô tô, xe gắn máy cho các chủ sở hữu, người quản lý và sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật. Về án phí, các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đinh Duy M, Lê Thị Thanh T7, Trần Thị Minh P, Đinh Thị L1; người làm chứng Nguyễn Trần Xuân S, Dương Anh T8 cũng như người đại diện hợp pháp của họ đều vắng mặt không rỏ lý do. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xử quyết định xét xử vắng mặt những người nêu trên.

[3] Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Đức H, Ngô Long N, Lê Thái H2, Đinh Công T4 và Trần Anh T6 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản xác định hiện trường vụ án, sơ đồ hiện trường vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Do nghi ngờ nhóm người ở huyện M trước đây rượt đuổi nhóm của mình khi vào thị trấn Q, huyện M chơi nên khoảng 16 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, sau khi nghe tin có nhóm người ở huyện M thị trấn Đ xe thì Lê Đức H, Ngô Long N, Đinh Công T4, Lê Thái H2 và Trần Anh T6 đã có hành vi dùng xe mô tô rượt đuổi Đinh Duy Q, Đinh Duy M, Nguyễn Trần Xuân S và Dương Anh T8 trên Quốc lộ A và 12 C thuộc địa phận thị trấn Đ, huyện T gây huyên náo, mất an ninh trật tự, an toàn giao thông nghiêm trọng trên hai tuyến Q. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự chung, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn, đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại Điều 318 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về vai trò, tính chất đồng phạm, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Lê Đức H là người đã có hành vi dùng mũ bảo hiểm xe máy ném về phía Đinh Duy Q và Đinh Dụy M1 trong quá trình rượt đuổi nên bị truy tố theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác. Đối với Ngô Long N là người thông tin cho cả nhóm về việc có nhóm người Minh Hóa ra thị trấn Đồng Lê độ xe cũng như tích cực cùng bị cáo H thực hiện hành vi gây rối nên phải chịu trách nhiệm cao hơn các bị cáo T4, H2, T6. Các bị cáo H2, T4, T6 đồng phạm nhưng giữ với vai trò không đáng kể nên chịu trách nhiệm hình sự nhẹ hơn bị cáo N và H. Vụ án có 05 bị cáo tham gia, tuy nhiên trước khi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò, vị trí cho nhau, vì vậy tính chất đồng phạm chỉ mang tính giản đơn.

Hành vi gây rối trật tự công cộng của các bị cáo đã thực hiện trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn công cộng, an toàn giao thông và các quy tắc sinh hoạt nơi cộng cộng. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây hoang mang lo lắng và ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của người dân sinh sống trên địa bàn.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải; sau khi thực hiện hành vi gây rối đã cùng gia đình bồi thường cho Định Duy M2, Đinh Quy Q2 chi phí điều trị, chi phí sửa chữa xe mô tô (riêng bị cáo H trong quá trình học tập có nhiều thành tích được Nhà trường tặng giấy khen) nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo N, T4, H2 và T6 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhe quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7]. Về nhân thân: Ngoài lần thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng lần này, các bị cáo chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý nên các bị cáo có nhân thân tốt.

[8] Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy:

Bị cáo H và bị cáo N là người giữ vai trò chính, các bị cáo T4, H2 và T6 đồng phạm nhưng giữ vai trò không đáng kể trong thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đều có nơi cư trú rỏ ràng, nhân thân tốt, tại thời điểm phạm tội đều là người chưa đủ 18 tuổi nên sự nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chưa đầy đủ. Do đó, HĐXX xét thấy chưa cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng những quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 99, Điều 100 và Điều 101 của Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cho các bị cáo H và N được cải tạo, giáo dục tại địa phương; áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo T4, H2, T6 như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[9] Về khấu trừ thu nhập: Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo N.

[10] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ một số vật chứng. Qua xem xét, Hội đồng xét xử quyết định xử lý số vật chứng này như sau:

[10.1]. Đối với xe gắn máy biển kiểm soát 73AC- 015.66, nhãn hiệu HDYA, số loại Sirus, màu sơn đen, đã qua sử dụng. Đây là phương tiện mà bị cáo Trần Anh T6 sử dụng vào việc phạm tội, tuy nhiên chủ sở hữu xe gắn máy biển kiểm soát 73AC- 015.66 là chị Trần Thị Minh P (chị gái của bị cáo) không có lỗi trong việc để bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại xe gắn máy cho chị P là phù hợp với khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[10.2]. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 73B1-384.53, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu sơn trắng đen bạc, đã qua sử dụng. Đây là phương tiện mà bị cáo Lê Thái H2 sử dụng vào việc phạm tội, tuy nhiên nguồn gốc xe gắn máy này do chị Lê Thị Thanh N1 (mẹ của bị cáo H2) sử dụng tiền mua lại của chị Lê Thị Thanh T7 (chưa làm thủ tục sang tên) để bị cáo H2 sử dụng vào việc đi lại học tập, chị N1 không biết việc bị cáo H2 sử dụng xe gắn máy vào việc phạm tội nên không có lỗi. Do đó cần trả lại xe gắn máy cho người quản lý hợp pháp chị Lê Thị Thanh N1 là phù hợp với khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[10.3]. Đối với một xe mô tô không biển kiểm soát, không có tem nhãn, màu sơn đen trắng, số khung RLCE55P0BY027513, số máy 55P1- 027514, đã qua sử dụng (tạm giữ của Lê Đức H). Đây là phương tiện bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội nhưng qua kết quả xác minh phương tiện thể hiện xe mô tô này có biển kiểm soát 63B1- 066.36, số loại EXCITER, màu sơn vàng đen, số số khung RLCE55P0BY027513, số máy 55P1- 027514 đứng tên chủ sở hữu Hồ Văn N2, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, anh N2 đã bán lại cho người khác vào năm 2018. Tại phiên tòa, anh Lê Đức T thừa nhận xe mô tô này trước đây do anh sử dụng tiền mua lại tại một tiệm xe cũ tại thành phố Đ (chưa làm thủ tục sang tên) để cho Lê Đức H làm phương tiện đi lại học tập, còn việc quản lý xe mô tô là của anh. HĐXX nhận thấy, anh T là người quản lý hợp pháp, anh không biết H sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội, không có lỗi nên cần trả lại xe mô tô trên cho anh Lê Đức T là phù hợp với khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[10.4]. Đối với một mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, trên bề mặt có nhiều vết xước trượt (tạm giữ của Lê Đức H). Đây là công cụ bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Các vấn đề khác:

[12.1] Đối với Mai Quốc Q1 trú tại thôn T, xã T, huyện T là người đã thông tin cho Ngô Long N về việc có nhóm thanh niên huyện M ra độ xe. Tuy nhiên Q1 chỉ thông báo qua điện thoại cho N, không có mục đích giúp sức, xúi dục, kích động; giữa Q1 và N không có trao đổi, bàn bạc nội dung gì liên quan đến việc gây rối trật tự công cộng nên hành vi của Q1 không cấu thành tội phạm.

[12.2] Ngoài hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cáo H và N còn có hành vi dùng chân đạp vào xe và người của M2, Q2. Hậu quả làm làm xe mất lái tông vào thành hộ lan bên phải đường, người và xe ngã trượt trên mặt đường, gây thương tích, xe gắn máy bị hư hỏng. Qúa trình điều tra, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã tiến hành giải thích các quy định của pháp luật về việc giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể cho Đinh Duy M, Đinh Duy Q và người đại diện hợp pháp nhưng cả Đinh Duy M, Đinh Duy Q và người đại diện hợp pháp đều thống nhất từ chối, không yêu cầu giám định tỷ lệ tổn cơ thể và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Hội đồng xử không xem xét. Đối với thiệt hại xe mô tô biển kiểm soát 73AB- 008.55 nhãn hiệu SAKI MOTOR, có giá trị là 1.930.000 đồng nên hành vi của H và N không cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47, Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo H); khoản 1 Điều 318, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 100 (đối với bị cáo N); khoản 1 Điều 318, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 47, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 99 của Bộ luật hình sự (đối với các bị cáo T4, H2, T6); khoản 2 Điều 136; các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án (đối với tất cả các bị cáo).

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Đức H, Ngô Long N, Lê Thái H2, Đình Công T10 và Trần Anh T6 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Xử phạt bị cáo Lê Đức H 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2024.

Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án (28/11/2024) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Giao bị cáo Lê Đức H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Xử phạt bị cáo Ngô Long N 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết định thi hành án.

Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án (28/11/2024) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành hình phạt.

Giao bị cáo Ngô Long N cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định của Luật Thi hành án hình sự.

4. Xử phạt bị cáo Lê Thái H2 15 triệu đồng (Mười lăm triệu đồng).

5. Xử phạt bị cáo Đinh Công T4 15 triệu đồng (Mười lăm triệu đồng).

6. Xử phạt bị cáo Trần Anh T6 15 triệu đồng (Mười lăm triệu đồng).

7. Xử lý vật chứng:

  • Trả lại cho chị Trần Thị Minh P 01 xe gắn máy biển kiểm soát 73AC- 015.66, nhãn hiệu HDYA, số loại Sirus, màu sơn đen, đã qua sử dụng.
  • Trả lại cho chị Lê Thị Thanh N1 01 xe mô tô biển kiểm soát 73B1-384.53, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu sơn trắng đen bạc, đã qua sử dụng.
  • Trả lại cho anh Lê Đức T 01 xe mô tô không biển kiểm soát, không có tem nhãn, màu sơn đen trắng, số khung RLCE55P0BY027513, số máy 55P1- 027514, đã qua sử dụng
  • Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, trên bề mặt có nhiều vết xước trượt.

(Tất cả các vật chứng có số lượng, đặc điểm như mô tả tại Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 10/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa).

8. Án phí: Các bị cáo Lê Đức H, Ngô Long N, Lê Thái H2, Đình Công T10 và Trần Anh T6 phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

9. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/11/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Q.Bình;
  • - VKSND tỉnh Q.Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Q.Bình;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người đại diện hợp pháp;
  • - Lưu VP; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về gây rối trật tự công cộng (criminal case)

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đức Hải cùng đồng bọn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger