Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:49/2024/HS-ST

Ngày: 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Tuấn Chiến
  • 2. Ông Nguyễn Đình Đại

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS, ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn D, sinh ngày 14/5/1994 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu V, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn N, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1970; Vợ: Mồng Thị L, sinh năm 1996 (đã ly hôn); Con: Chưa có.

Tiền án: 02

  • Bản án số 20/2018/HS-ST ngày 25/5/2018, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt Phạm Văn D 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 27/10/2018.
  • Bản án số 52/2020/HSST ngày 05/5/2020, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Văn D 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 24/3/2022.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Quyết định số 02/QĐ-XPHC ngày 23 tháng 6 năm 2014, Trưởng Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn D số tiền là 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt ngày 26/6/2016.
  • Quyết định số 08/QĐ-UBND, ngày 12/3/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã H, huyện Đ) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời gian chấp hành 03 tháng đối với Phạm Văn D. Đã chấp hành xong.
  • Quyết định số 02/QĐ-TA, ngày 22/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn D, thời gian chấp hành 24 tháng. Phạm Văn D trốn khỏi địa phương chưa thi hành đến ngày 27/01/2018 bị bắt tạm giam về “tội trộm cắp tài sản”.
  • Bản án số 96/2023/HS-ST, ngày 10/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Phạm Văn D 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hiện bị cáo đang chấp hành hình phạt tù của Bản án tại Trại giam H - Bộ C. Bị cáo không bị tạm giam trong vụ án này. Bị cáo đã được trích xuất về trại tạm giam Công an tỉnh P để tham gia xét xử. Có mặt

Bị hại: Công ty Cổ phần X; Địa chỉ trụ sở: Số F ngõ H, đường N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Văn T- Chức vụ: Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Như N1 - Trưởng phòng pháp chế- Hành chính sự nghiệp đối ngoại, Công ty cổ phần X. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 45 phút ngày 23/3/2023, tại công trình thi công cầu Đ bắc qua sông C, thuộc khu H, thị trấn Đ, huyện Đ, Công an thị trấn Đ lập biên bản sự việc đối với Phạm Văn D sinh năm 1994, ở khu V, xã H, huyện Đ về hành vi trộm cắp tài sản; tạm giữ của D 06 đoạn sắt đặc xoắn các loại đã qua sử dụng, có trọng lượng 18 kg. Công an thị trấn Đ đã tiến hành điều tra, xác minh làm rõ nội dung vụ việc như sau:

Phạm Văn D là người sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào ngày 24/3/2022. Sau khi trở về địa phương, D không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, thường đi chơi lang thang. Khoảng 16 giờ ngày 23/3/2023, D đi từ thành phố T về nhà ở xã H, huyện Đ. Khi đi qua công trình thi công cầu Đ thuộc khu H, thị trấn Đ, do Công ty Cổ phần X có địa chỉ tại số F, ngõ H đường N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội tiến hành thi công, Duyệt phát hiện trên mặt trụ cầu T (thuộc phần cầu mới đang xây dựng) có nhiều đoạn sắt đã được cắt rời nên nảy sinh ý định đợi khi trời tối sẽ trộm cắp những đoạn sắt này để mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, D đi bộ từ nhà ra đường đê sông L, sau đó đi nhờ xe mô tô của một người nam giới không quen biết đến khu vực gần cầu Đ thì xuống xe. Duyệt một mình đi bộ dọc theo phần cầu cũ, quan sát xung quanh không thấy có người trông coi, quản lý. Duyệt đi đến vị trí đối diện với trụ cầu T thuộc công trình cầu mới đang xây dựng, trèo qua lan can của cầu cũ, đi qua thang nối từ cầu cũ sang phần mặt trụ cầu T. Duyệt lần lượt nhặt 06 đoạn sắt trên bề mặt trụ cầu T rồi di chuyển 06 đoạn sắt đến lan can cầu cũ, gom lại để ở cùng một chỗ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi Duyệt vừa chuyển được 06 đoạn sắt sang lan can cầu cũ, chưa kịp mang đi tiêu thụ thì bị bảo vệ của công trình là ông Đoàn Văn G, sinh năm 1964 ở khu N, xã C, huyện Đ phát hiện, hô hoán công nhân của Công ty Cổ phần X có mặt tại công trình giữ Duyệt cùng 06 đoạn sắt và trình báo công an thị trấn Đ nội dung vụ việc.

Công an thị trấn Đ đã lập biên bản, tạm giữ số tài sản Duyệt vừa trộm cắp là 06 đoạn sắt, có đặc điểm như sau:

  • - 02 đoạn sắt dạng chữ L phi 16, trong đó: 01 đoạn dài 1,2 m; 01 đoạn dài 1,05m;
  • - 01 đoạn sắt dạng chữ T được hàn nối từ 04 đoạn sắt, trong đó: 01 đọan dài 0,3m phi 30; 01 đoạn dài 0,04m phi 30; 01 đoạn dài 01m phi 14 và 01 đoạn dài 0,8m phi 20
  • - 03 đoạn sắt thẳng, trong đó: 01 đoạn dài 1,1m phi 25; 01 đoạn dài 01m phi 16; 01 đoạn được hàn nối từ 02 đoạn sắt dài 0,67m và 0,6m phi 14.

Tổng trọng lượng 06 đoạn sắt là 18kg.

Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ đã yêu cầu định giá tài sản đối với 06 đoạn sắt Duyệt đã trộm cắp theo quy định pháp luật. Tại Kết luận định giá số 23 ngày 30/3/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ xác định: “18 kg sắt cây đặc xoắn bị cắt thành nhiều đoạn, đã qua sử dụng, bị hoen rỉ thời điểm tháng 3/2023 trị giá 171.000 đồng (một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng)”.

Ngày 30/3/2023, Cơ quan Công an đã trả lại 06 đoạn sắt có đặc điểm nêu trên cho bị hại là Công ty cổ phần X.

Ngày 04/4/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên của Phạm Văn D, hình thức phạt tiền, mức phạt 2.500.000 đồng.

Quá trình xác minh sau đó xác định, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, D đang có 02 tiền án, trong đó có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, ngày 11/8/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Đ đã chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm hành chính đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra làm rõ như sau: Trước khi thực hiện hành vi trộm cắp ngày 23/3/2023, D đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Cụ thể: Ngày 26/01/2018, D trộm cắp 01 chiếc xe mô tô trị giá 10.000.000 đồng, ngày 25/5/2018, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/10/2018, D chấp hành xong án phạt tù. Đến ngày 24/12/2019, D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 05/5/2020, Tòa án Nhân dân huyện Gia Lâm, TP. xử phạt 30 tháng tù. Ngày 24/3/2022, D chấp hành xong án phạt tù. Sau đó, ngày 23/3/2023, D tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại công trình thi công cầu Đ như đã nêu trên. Do vậy, mặc dù tài sản trộm cắp trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng hành vi của D đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Ngày 12/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Văn D. Cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Đ ra Quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D và hoàn tất thủ tục thoái thu số tiền xử phạt 2.500.000 đồng theo quy định.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn D đã khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 42/CT-VKS-VT, ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Phạm Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn D từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 05 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 96/2023/HS- ST, ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 06 tháng tù đến 05 năm 09 tháng tù. Trừ cho bị cáo thời gian đã chấp hành hình phạt của Bản án số 96/2023/HS-ST, ngày 10/8/2023 là 01(một) năm 08 (tám) tháng 03 (Ba) ngày tù (Từ ngày 05/4/2023 đến ngày 27/11/2024). Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 28/11/2024.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Công ty cổ phần X đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không phải giải quyết.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    - Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả lại 06 đoạn sắt cho Công ty cổ phần X.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Phạm Văn D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Phạm Văn D không tranh luận, không bào chữa gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng hình sự: Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, không ai có ý kiến, khiếu nại. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận:

    Khoảng 20 giờ ngày 23/3/2023, tại công trình thi công cầu Đ thuộc khu H, thị trấn Đ, huyện Đ, Phạm Văn D sinh năm 1994 ở khu V, xã H, huyện Đ có hành vi lén lút trộm cắp của Công ty Cổ phần X có địa chỉ tại số F, ngõ H đường N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội 06 đoạn sắt có tổng trọng lượng 18kg, trị giá 171.000 đồng. Do bị cáo Phạm Văn D đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nên hành vi của D đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

    Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

    “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.

    Do vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đối với bị cáo Phạm Văn D là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất ổn định tình hình trị an và lo lắng cho người dân. Do vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.
  4. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    [4.1]. Về nhân thân: Bị cáo Phạm Văn D là người có nhân thân xấu đã nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm hành chính (đã hết thời hạn, được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); nhiều lần bị Tòa án xét xử đến nay chưa được xóa án tích. Hiện bị cáo đang phải chấp hành hình phạt là 5 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    [4.2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Tính đến thời điểm phạm tội, bị cáo có tiền án và chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

    Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo là phù hợp.

  5. Về tổng hợp hình phạt: Hiện bị cáo đang chấp hành hình phạt tù theo quyết định tại Bản án số 96/2023/HS-ST, ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Phạm Văn D 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 05/4/2023. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp với hình phạt trong bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án, được trừ đi thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước.
  6. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, kết quả xác minh cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, hiện đang chấp hành hình phạt tù, không có tài sản riêng gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
  7. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty cổ phần X 06 đoạn sắt là đúng quy định pháp luật, cần xác nhận.
  8. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp, bị hại đã nhận lại không yêu cầu bồi thường gì nên không phải giải quyết.
  9. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 05 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 96/2023/HS-ST, ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 06 tháng tù. Trừ cho bị cáo thời gian đã chấp hành hình phạt của Bản án số 96/2023/HS-ST, ngày 10/8/2023 là 01(một) năm 08 (tám) tháng 03 (Ba) ngày tù (Từ ngày 05/4/2023 đến ngày 27/11/2024). Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng 27 (hai mươi bẩy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 28/11/2024.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị hại đã nhận lại tài sản do bị cáo trộm cắp, không yêu cầu gì nên không phải giải quyết.
  4. Về xử lý vật chứng: Xác nhận Cơ quan Công an thị trấn Đ, huyện Đ đã trả lại 06 đoạn sắt có tổng trọng lượng 18kg cho Công ty cổ phần X. (Biên bản trả lại tài sản ngày 30/3/2023)
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Văn D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an huyện Đoan Hùng;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Bùi Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger