Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẢO THẮNG

TỈNH LÀO CAI

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày 25 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thu Hương

Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thăng, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Mai Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng mở phiên toà xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Thị H (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 10/10/1979 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai;

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Xuân S và bà Nguyễn Thị V; Có chồng là Đào Văn S1 và 01 con. Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án:

Bản án số 91/2006/HSST ngày 28/12/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt Trần Thị H 06 năm tù về tội “Mua bán phụ nữ” và 12 năm tù về tội “Mua bán trẻ em”. Ngày 27/01/2019 chấp hành xong hình phạt tù.

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai tỉnh Lào Cai xử phạt Trần Thị H 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo đang được hoãn chấp hành án.

Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/9/2024, tạm giam từ ngày 20/9/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

2. Bùi Thanh S2 (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 11/8/1986 tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi ở: Thôn Đ, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Thanh H1 và bà Bùi Thị H2; chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự:

Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 107/QĐ-TA ngày 12/6/2023 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Ngày 29/3/2024 chấp hành xong quyết định.

Nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/9/2024, tạm giam ngày 19/9/2024 hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Tại điểm cầu Trung tâm

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Minh K

Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai

Vắng mặt.

- Tại điểm cầu thành phần:

Người tiến hành tố tụng: Bà Hà Thị Thanh T - Thư ký Toà án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 25 phút ngày 16/9/2024, Công an huyện B làm nhiệm vụ tại thôn Đ, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện Bùi Thanh S2 có biểu hiện nghi vấn về ma tuý. Quá trình kiểm tra S2 tự giác lấy trong túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp 01 gói nilon màu trắng cuộn tròn, mở ra bên trong chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng, S2 khai nhận là H3 vừa mua của Trần Thị H (sinh năm 1979, cư trú tại thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai).

Tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Trần Thị H, cơ quan công an thu giữ trong túi vải Trần Thị H đang đeo trên người tại ngăn bên ngoài phát hiện 01 gói nilon màu trắng bên trong có chất bột khô, vón cục, màu trắng; 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột khô, vón cục màu trắng; 01 gói nilon màu xanh được buộc bằng dây nilon màu trắng, mở ra bên trong có 01 gói nilon màu đen, trong cùng là chất bột khô vón cục màu trắng. Trần Thị H khai nhận các chất bột khô màu trắng là ma tuý Heroine H4 đã mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực dốc B thuộc thị xã S, tỉnh Lào Cai với giá 3.000.000đ vào khoảng đầu tháng 9/2024. Sau đó bị cáo mang về nhà chia thành nhiều gói nhỏ rồi cất giấu với mục đích bán kiếm lời.

Quá trình điều tra Bùi Thanh S2 và Trần Thị H khai nhận như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 16/9/2024, Bùi Thanh S2 đang làm việc tại ga L thuộc thôn Đ, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai thì có Vũ Minh K (tên thường gọi là T1, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai) gọi điện thoại cho S2 nhờ mua hộ ma tuý. S2 đồng ý và bảo K đi xe máy lên để S2 lấy xe đi. Khoảng 10 phút sau, K điều khiển xe mô tô YAMAHA biển kiểm soát 24T9-5818 đến ga L gặp S2. Tại đây K đưa cho S2 600.000₫ và đưa xe mô tô của mình cho S2 để nhờ S2 mua 01 gói Heroine. S2 cầm tiền và một mình điều khiển xe mô tô đến nhà Trần Thị H, trên đường đi S2 gọi điện thoại cho Trần Thị H nói “Chị ơi em vào được không, để cho em một con hàng”, H trả lời “em vào đi, chị đứng ở ven đường”. Sau khi nghe điện thoại của S2, H vào nhà lấy gói ma tuý để trong túi vải thổ cẩm và sử dụng dao lam cắt một phần nhỏ ma tuý Heroin, gói phần ma tuý vừa cắt vào mảnh nilon màu trắng, số ma tuý còn lại cho vào túi vải thổ cẩm. Chuẩn bị xong, H đi ra đường cách cổng nhà 50m đứng đợi S2. Khoảng 13 giờ cùng ngày, S2 đến gặp H và H đã đưa cho S2 01 gói ma tuý, S2 đưa lại cho H 300.000₫ sau đó cầm ma tuý cất vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe đi về thôn Đ thì bị bắt.

Vật chứng thu giữ trong quá trình bắt giữ S2 và H gồm có:

Thu giữ của Bùi Thanh S2 01 gói nilon màu trắng cuộn tròn, mở ra bên trong chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng (mẫu M1)

Thu giữ của Trần Thị H: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chất bột khô, vón cục, màu trắng (mẫu M2); 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột khô, vón cục màu trắng (mẫu M3); 01 gói nilon màu xanh được buộc bằng dây nilon màu trắng, mở ra bên trong có 01 gói nilon màu đen, trong cùng là chất bột khô vón cục màu trắng (mẫu M4).

Ngoài ra còn thu giữ của S2 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, xe mô tô YAMAHA biển kiểm soát 24T9-5818. Thu giữ của Trần Thị H 01 thẻ căn cước công dân, 01 điện thoại di động Oppo, thu giữ trong túi vải của H số tiền 8.180.000 đồng và thu giữ tại túi quần bên trái mà H đang mặc số tiền 2.100.000 đồng.

Tại kết luận giám định số 351/KL-GĐMT ngày 18/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:

Mẫu M1: khối lượng 0,299 gam là chất ma tuý Heroine

Mẫu M2: khối lượng 0,337 gam là chất ma tuý Heroine

Mẫu M3: khối lượng 0,135 gam là chất ma tuý Heroine

Mẫu M4: khối lượng 11,363 gam là chất ma tuý Heroine

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSBT ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Trần Thị H về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố Bùi Thanh S2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị H và Bùi Thanh S2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không đề nghị gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”, tuyên bố Bùi Thanh S2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Đề nghị áp dụng: điểm i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo H từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000đ đến 10.000.000₫ sung quỹ Nhà nước. Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tại bản án số 05/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của Toà án nhân dân thành phô Lào Cai tỉnh Lào Cai, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thanh S2 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma tuý Heroine còn lại sau giám định, tiêu huỷ 01 túi vải in hoạ tiết hoa văn thổ cẩm của Trần Thị H. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus và 01 điện thoại di động OPPO, tiêu huỷ thẻ sim lắp trong điện thoại. Đối với số tiền 10.280.000₫ thu giữ của Trần Thị H: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 300.000đ và tiếp tục tạm giữ 9.980.000₫ để đảm bảo thi hành án.

Đề nghị tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Bùi Thanh S2 và Trần Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Ngày 16/9/2024 bị cáo H đã bán cho bị cáo S2 01 gói ma tuý Heroine có khối lượng 0,299 gam với giá 300.000đ. Quá trình khám xét khẩn cấp đối với bị cáo H còn thu giữ tổng cộng 11,835 gam ma tuý Heroine, bị cáo H khai mục đích sử dụng để bán kiếm lời. Như vậy bị cáo H phải chịu trách nhiệm đối với tổng khối lượng ma tuý là 12,134 gam Heroine. Bản thân bị cáo H đang có 02 tiền án chưa được xoá án tích, trong đó bản án 05/2024/HSST ngày 09/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai đã áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” đối với bị cáo. Do đó hành vi vi phạm lần này của bị cáo H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo 02 tình tiết định khung tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo S2, quá trình điều tra bị cáo khai số ma tuý bị cáo mua của H là mua hộ cho Vũ Minh K. Tuy nhiên Vũ Minh K không thừa nhận việc nhờ bị cáo S2 mua hộ ma tuý, quá trình đấu tranh cũng không có thêm tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh bị cáo mua hộ ma tuý cho K. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với 0,299gam Heroine đã cất giấu trên người và hành vi của bị cáo S2 đã cấu thành vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3]. Bị cáo Trần Thị H và Bùi Thanh S2 đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật song các bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, bị cáo S2 có 01 tiền sự đi cai nghiện bắt buộc nhưng không thay đổi sửa chữa nên cần xử phạt nghiêm minh. Đặc biệt đối với bị cáo H hiện có 02 tiền án và đang trong thời gian được hoãn chấp hành án phạt tù nhưng bị cáo vẫn tiếp tục có hành vi bán trái phép chất ma tuý, điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật gây bức xúc trong xã hội, hành vi vi phạm lần này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm nên cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc mới đủ tính răn đe.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tai điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo S2 quá trình điều tra bị cáo khai đã từng mua ma tuý của Trần Văn C (địa chỉ: Thôn G, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai). Lời khai của bị cáo đã giúp cơ quan điều tra công an tỉnh L phát hiện tội phạm mới, hiện cơ quan công an đã khởi tố Trần Văn C về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Do đó bị cáo S2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Hình phạt bổ sung: Xét thấy cần phạt bổ sung bị cáo H một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

[6]. Các vấn đề có liên quan trong vụ án: Theo lời khai của bị cáo H, nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ là của H mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực dốc B thuộc thị xã S, tỉnh Lào Cai với giá 3.000.000đ. Quá trình điều tra không xác định được căn cước lai lịch của người này nên không có cơ sở để xử lý. Bị cáo S2 khai số ma tuý thu giữ trên người bị cáo là do bị cáo được Vũ Minh K nhờ đi mua. Tuy nhiên Vũ Minh K không thừa nhận việc nhờ bị cáo S2 mua hộ ma tuý và cũng không có thêm tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh bị cáo mua hộ ma tuý cho K nên không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với K.

[7]. Vật chứng của vụ án: Khi bắt giữ Bùi Thanh S2 cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô YAMAHA nhãn hiệu ULTIMO biển kiểm soát 24T9-5818 và đăng ký xe mang tên Nguyễn Thúy L. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là của Vũ Minh K cho bị cáo S2 mượn, K khai cho bị cáo S2 mượn xe nhưng không biết việc S2 sử dụng xe đi mua ma tuý nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho K là đúng quy định. Ngoài ra còn thu giữ của S2 01 điện thoại Iphone 7 Plus, đây là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma tuý của H nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Khi bắt giữ Trần Thị H, cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại di động OPPO, đây là điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc bán ma tuý cho S2 nền cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 túi vải in hoạ tiết thổ cẩm, đây là chiếc túi bị cáo H sử dụng cất giấu ma tuý nên cần tịch thu tiêu huỷ. Số tiền thu giữ của bị cáo H tổng cộng là 10.280.000₫ trong đó có 300.000₫ bị cáo H bán ma tuý cho S2 cần tịch thu sung quỹ nhà nước, số còn lại 9.980.000₫ cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với Căn cước công dân của Trần Thị H cơ quan điều tra đã trả lại cho H.

Đối với số ma tuý Heroine đã thu giữ của hai bị cáo, cơ quan giám định đã sử dụng giám định và hoàn lại mẫu M1: 0,267gam, mẫu M2: 0,307 gam; mẫu M3: 0,112gam, mẫu M4: 10,687 gam. Đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thị H 08 năm 06 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000₫ sung quỹ Nhà nước.

Căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành tại bản án số 05/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai là 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Buộc bị cáo Trần Thị H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 16 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2024.

2. Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh S2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thanh S2 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2024.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng:

Khối lượng ma tuý Heroine còn lại sau giám định của Mẫu M1 là 0,267 gam được cho vào túi nilon đựng mẫu, cùng mảnh giấy trắng màu trắng và bì niêm phong thứ nhất gửi giám định, được tái niêm phong trong một bì thư in sẵn của Phòng K1 Công an tỉnh L, mặt trước của bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Bùi Thanh S2 tại thôn Đ, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai ngày 16/9/2024".

Khối lượng ma tuý Heroine còn lại sau giám định của mẫu M2: 0,307gam; mẫu M3: 0,112 gam; mẫu M4: 10,687 gam được cho riêng vào từng túi nilon đựng mẫu cùng 02 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu đen và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Các vật chứng được tái niêm phong trong một bì thư in sẵn của Phòng K1 Công an tỉnh L, mặt trước của bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau giám định thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp người, chỗ ở đối với Trần Thị H ngày 16/9/2024 tại thôn P, xã T, TP L, tỉnh Lào Cai”.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước

01 điện thoại di động Iphone 7 Plus số IMEI 35381908311705. Tiêu huỷ thẻ sim số thuê bao 0866092186 lắp trong điện thoại.

01 điện thoại di động OPPO số IMEI 1 862627050865192, số IMEI 2 862627080865184. Tiêu huỷ 02 thẻ sim số thuê bao 0977819042 và 0387708592 lắp trong điện thoại.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 túi vải in hoạ tiết hoa văn thổ cẩm, túi có 03 ngăn và có quai đeo.

- Số tiền 10.280.000đ được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B niêm phong gửi tại Kho bạc nhà nước huyện B theo biên bản giao nhận tài sản số 84/2024/KBNN-KBBT ngày 30/9/2024: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 300.000đ. Tiếp tục tạm giữ 9.980.000đ để đảm bảo thi hành án.

Các vật chứng đã được bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2024.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần Thị H và Bùi Thanh S2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND huyện Bảo Thắng;
  • - Công an huyện Bảo Thắng (2);
  • - Sở tư pháp tỉnh LC;
  • - Bị cáo (2);
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Thị Giang Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thu H và Bùi Thanh S - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger