|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-11-2024
V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thanh Yên và bà Nguyễn Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên toà:
Ông Lê Muộn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trượng Thị E, sinh năm: 1983 (có mặt).
Trú tại: Thôn V, Xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm: 1980 (vắng mặt).
Trú tại: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01/10/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trượng Thị E trình bày: Bà với ông Nguyễn Duy K tự nguyện tìm hiểu, tiến đến chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và thực hiện đăng ký kết hôn từ năm 2001. Tuy nhiên, do giấy chứng nhận kết hôn bị mất nên đến năm 2021 bà với ông K tiếp tục làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã P theo giấy chứng nhận kết hôn số 38/2021 ngày 11/5/2021. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2007 xảy ra mâu thuẫn, sau đó ông K bỏ đi xa và đến năm 2010 ông K quay về năn nỉ bà nên vợ chồng tiếp tục chung sống. Đến năm 2023 tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông K có quan hệ tình cảm bên ngoài với người phụ nữ khác và có con riêng với người phụ nữ đó nên làm cho vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn ông K vì xét thấy không thể tiếp tục chung sống.
- Về con chung: Bà với ông Nguyễn Duy K có 03 con chung tên Nguyễn Duy T, sinh năm 2001, Nguyễn Thị T1, sinh năm 2003 và Nguyễn Duy T2, sinh năm 2010. Hiện cháu T và T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu T2 hiện đang sống cùng với bà. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T2, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà với ông Nguyễn Duy K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết..
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/11/2024 (BL 20), bị đơn ông Nguyễn Duy K trình bày: Ông với bà Trượng Thị E tự nguyện tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau từ năm 2000, đến năm 2021 thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 4/2024 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do từ khi bà E đi Đồng Nai thăm con về thì yêu cầu ông phải bán hết đàn bò để trả nợ nhưng ông không đồng ý nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nay ông xét thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng vì vậy ông yêu cầu Tòa án cho quay về đoàn tụ đề nuôi dạy con cái. Ông xác định ông và bà E đã sống cách ly nhau từ tháng 4/2024 cho đến nay.
- Về con chung: Ông với bà Trượng Thị E có 03 con chung tên Nguyễn Duy T, sinh năm 2001, Nguyễn Thị T1, sinh năm 2003 và Nguyễn Duy T2, sinh năm 2010. Hiện cháu T và T1 đã trưởng thành. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông đồng ý giao cháu T2 cho bà E tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông với bà Trượng Thị E tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trượng Thị E.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Trượng Thị E khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Duy K; ông Nguyễn Duy K có nơi cư trú tại thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam.
[2]. Về việc vắng mặt của bị đơn: Tại biên bản lấy lời khai (BL 20), ông Nguyễn Duy A yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ theo Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông K.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về hôn nhân: Bà Trượng Thị E và ông Nguyễn Duy K chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38/2021, ngày 11/5/2021. Vì vậy, hôn nhân giữa bà Trượng Thị E và ông Nguyễn Duy K là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
[3.2]. Về tình trạng hôn nhân: Bà Trượng Thị E cho rằng vợ chồng chung sống đến năm 2023 xảy ra mâu thuẫn do ông K có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác và có con riêng. Ông K cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng. Tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông K nhưng ông K không đến Tòa để trình bày ý kiến, điều đó chứng tỏ ông K không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng. Ông K thừa nhận vợ chồng đã sống cách ly nhau từ tháng 4/2024 đến nay, vì vậy đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông K và bà E đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà E.
[3.3]. Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Trượng Thị E yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung chưa thành niên tên Nguyễn Duy T2, sinh ngày 13/10/2010. Ông K đồng ý với yêu cầu của bà E, đồng thời cháu T2 có nguyện vọng được sống cùng với mẹ là bà Trượng Thị E là phù hợp quy định pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà E tự nguyện không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trượng Thị E và ông Nguyễn Duy K tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét..
[5]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam về việc giải quyết vụ án là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[6]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bà Trượng Thị E phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trượng Thị E.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trượng Thị E được ly hôn ông Nguyễn Duy K.
2. Về con chung: Giao 01 con chung chưa thành niên tên Nguyễn Duy T2, sinh ngày 13/10/2010 cho bà Trượng Thị E trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Bà Trượng Thị E phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà E đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002477 ngày 03/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Bà E đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà, có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Dương Khánh Hưng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Thị Thanh Yên Nguyễn Thị Liên |
Dương Khánh Hưng |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châp nhận yêu cầu ly hôn, nuôi con của nguyên đơn
