|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày 08/11/2024 |
---------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Long và ông Nguyễn Ngọc Chẩn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Bảo Ngọc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Thanh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 31/2024/HSST-QĐ ngày 25/10/2024 đối với các bị cáo:
[1] Hồ Quốc H – sinh ngày 26/5/2002 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn B – sinh năm 1977, bà Nguyễn Thị Kim N – sinh năm 1972; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[2] Lê Đình P – sinh ngày 21/9/2004 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình H1 – sinh năm 1976, bà Phan Thị H2 – sinh năm 1984; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 16/12/2019 bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính “Cảnh cáo” về hành vi đánh nhau.
[3] Phan Hoàng V (tên gọi khác “Chó”) – sinh ngày 15/3/2005 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn N1 – sinh năm 1967, bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1969; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[4] Đinh Văn T1 – sinh ngày 16/01/2001 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn N2 – sinh năm 1981, bà Nguyễn Thị S – sinh năm 1984; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[5] Trần Thanh L (tên gọi khác “B1”) – sinh ngày 13/9/2001 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn M – sinh năm 1977, bà Nguyễn Thị M1 – sinh năm 1980; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[6] Nguyễn Tuấn K (tên gọi khác “Chù”) – sinh ngày 07/11/2001 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q – sinh năm 1977, bà Lê Thị L1 – sinh năm 1980; Chưa có vợ con. Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 12/10/2022 bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000đ về hành vi Gây rối trật tự công cộng, đã nộp phạt ngày 02/11/2022.
Nhân thân: Ngày 12/9/2019 bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.250.000đ về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, đã nộp phạt ngày 06/11/2019.
[7] Võ Văn L2 – sinh ngày 12/5/2001 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn N3 – sinh năm 1977, bà Lê Thị H3 – sinh năm 1974; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 12/9/2019 bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, đã nộp phạt ngày 04/11/2019.
[8] Lê Văn K1 – sinh ngày 06/10/1994 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn C – sinh năm 1972, bà Phan Thị L3 – sinh năm 1972; Chưa có vợ, có 01 con Lê Đăng K2 – sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 29/7/2016 bị TAND thị xã Sông Cầu xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo về tội “Giao cấu với trẻ em”, thời gian thử thách 05 năm. Đã chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 29/7/2020 (được rút ngắn 01 năm).
[9] Nguyễn Tấn T2 – sinh ngày 12/9/1994 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn T3 – sinh năm 1970, bà Nguyễn Thị H4 – sinh năm 1975; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[10] Võ Văn V1 – sinh ngày 20/12/2000 tại huyện T, tỉnh Ninh Thuận; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn T4 – sinh năm 1970, bà Lê Thị N4 – sinh năm 1975; Có vợ Nguyễn Thị Thanh T5 – sinh năm 2003, có 01 con Võ Tiểu M2 – sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không.
[11] Lê Tấn Đ – sinh ngày 18/7/1997 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn X – sinh năm 1970, bà Lê Thị Kim L4 – sinh năm 1972; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[12] Lê Hữu C1 (tên gọi khác “Dĩnh”) – sinh ngày 06/12/1997 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Hữu N5 – sinh năm 1972, bà Nguyễn Thị M3 – sinh năm 1973; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[13] Ngô Văn C2 (tên gọi khác “Ròm”) – sinh ngày 01/7/1993 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Kim H5 – sinh năm 1967, bà Huỳnh Thị S1 – sinh năm 1970; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[14] Hồ Văn C3 – sinh ngày 21/8/2003 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn B2 – sinh năm 1977, bà Phan Thị Kim L5 – sinh năm 1979; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[15] Phan Văn H6 – sinh ngày 11/8/2003 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn X1 – sinh năm 1981, bà Nguyễn Thị C4 (chết); Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[16] Đoàn Nhật Y – sinh ngày 15/7/2002 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: phụ xe; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn T6 – sinh năm 1976, bà Mai Thị H7 – sinh năm 1973; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[17] Lê Nguyễn Quyết T7 (tên gọi khác “Hét”) – sinh ngày 29/5/2005 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn C5 – sinh năm 1978, bà Nguyễn Thị Bích L6 – sinh năm 1980; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[18] Nguyễn Công Đ1 – sinh ngày 24/02/1995 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ2 – sinh năm 1965, bà Nguyễn Thị L7 – sinh năm 1965; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[19] Nguyễn Văn L8 – sinh ngày 15/5/1998 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn C6 – sinh năm 1976, bà Dương Thị L9 – sinh năm 1973; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[20] Lê Văn T8 – sinh ngày 23/5/2004 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: thợ sửa xe máy; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Q1 – sinh năm 1976, bà Nguyễn Thị M4 – sinh năm 1980; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
[21] Nguyễn Xuân H8 – sinh ngày 19/02/2001 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Chí T9 – sinh năm 1969, bà Trương Thị K3 – sinh năm 1974; Có vợ Đinh Ngọc M5 – sinh năm 2002, có 01 con sinh ngày 13/10/2024. Tiền án, tiền sự: không.
Tất cả các bị cáo đều tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Võ Văn L2, Lê Văn T8 và Nguyễn Xuân H8: Ông Trần Danh T10 – Luật sư, địa chỉ: G T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Người bị hại: Anh Lê Thanh S2 – sinh năm 1999, địa chỉ: H, X, Sông C, Phú Yên. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị N4 – sinh năm 1975, địa chỉ: H, X, Sông C, Phú Yên. Có mặt.
- Anh Đinh Văn H9 – sinh năm 1993, địa chỉ: H, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt.
- Anh Trần Tiền T11 – sinh năm 1993, địa chỉ: P, C, C, Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Lê Hữu N5 – sinh năm 1972, địa chỉ: H, X, Sông C, Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 17/10/2022, nhóm thanh niên ở thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên gồm: Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1 và Trần Thanh L cùng nhau đi uống cà phê tại quán “ROVINA” thuộc thôn P, xã X. Trước đó khi đi ăn tối Hồ Quốc H thấy Lê Thanh S2 điều khiển xe mô tô chở bạn gái đi chơi, do có mâu thuẫn từ trước với nhóm thanh niên thôn H nên H bàn bạc với cả nhóm sau khi uống cà phê sẽ chặn xe S2 để giải quyết mâu thuẫn (vì H cho rằng S2 cũng là thanh niên ở thôn H, xã X) thì được cả nhóm gồm P, V, T1 và L đồng ý.
Đến khoảng 21 giờ 00 cùng ngày, H, P, V, T1, Lào nghĩ S2 đã đi chơi về nên cùng nhau điều khiển xe mô tô đến quán T12” thuộc thôn H, xã X để xe mô tô tại đây, sau đó cả nhóm đi bộ đến đoạn đường đèo “ông K4” thuộc thôn H, xã X để chờ chặn đường S. Khi đi đến đoạn đường đèo “ông K4” thì H, P và V đi vào trong rừng bạch đàn phía bên phải để núp chờ S2; còn L và Tân đứng ở cống thoát nước cách khoảng 15 mét về hướng Tây. Khoảng 15 phút sau, S2 điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường đèo “ông K4” thì H, P, V xông ra, chặn xe của S2, lúc này H kêu S2 dừng xe lại đồng thời dùng tay phải nắm vào vai phía bên trái của S2 với mục đích chặn giữ S2, làm S2 điều khiển xe chạy loạng choạng, rồi ngã xuống đường dẫn đến Sang bị trầy xước, xây xát da, xe mô tô bị hư hỏng. S2 bị nhóm thanh niên H, P, V, T1, Lào giữ lại, khi đó H nói “Thằng đây đợt trước đi với thằng K bồ con L10 tới ném chai ở quán tạp hóa bà N4”, lúc này S2 trả lời không có liên quan, mà trả lời là “thằng K và những thằng khác ở thôn H” nên lúc này H cùng P, V, T1, Lào không cho S2 về mà đưa S2 đi đến quán T12” để giải quyết mâu thuẫn. Khi đó, P điều khiển xe của S2 chở S2 ngồi giữa và V ngồi sau giữ S2, còn H, T1, L đi bộ đến quán T12".
Khi đến quán T12” thì H, P, V, T1, Lào thấy S2 bị thương tích chảy máu nên có xin bông, dầu gió và nước tại quán để S2 sơ cứu vết thương. Tại đây, H hỏi S2 có phải là thanh niên ở thôn H, xã X vào thời gian trước đây đến ném vỏ chai thủy tinh vào quán tạp hóa “Hai N4” hay không thì S2 trả lời là “không phải” và cho rằng là Nguyễn Tuấn K nên lúc này H yêu cầu S2 gọi điện thoại cho K để qua nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn nên S2 có gọi điện thoại cho Võ Văn L2 là bạn của K nhưng L2 không nghe máy. Sau đó, có một nam thanh niên đi tới quán chơi thì nhóm của H có mượn điện thoại để gọi điện thoại cho L10 (là người yêu của K) để S2 nói chuyện với L10, lúc này S2 nói với L10 gọi điện thoại giùm cho K và L2 qua bên “Nhà Ngòi” nói chuyện sau đó cúp máy.
Tiếp đó, nhóm H, P, V, T1, Lào không cho S2 về mà giữ S2 để chờ K, L2 cùng các thanh niên thôn H, xã X qua giải quyết mâu thuẫn. Khoảng 15 đến 20 phút thì bà chủ quán tạp hóa “Hai N6” đuổi cả nhóm của H đi khỏi quán vì sợ nhóm thanh niên thôn H qua quậy phá, nên cả nhóm H, P, V, T1, Lào di chuyển đến chợ “Hòa Hiệp” (thường gọi là chợ “Nhà Ngòi”), lúc này P là người trực tiếp điều khiển xe mô tô của S2 để chở S2 ngồi giữa và Vũ ngồi ở phía sau giữ S2. Khi đi đến chợ thì để xe của S2 ở phía trong chợ rồi giữ S2 tại đây để chờ nhóm thanh niên thôn H, xã X đi đến giải quyết mâu thuẫn. Tại đây có Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1 và Đoàn Nhật Y cùng trú tại thôn H, xã X đi đến, khi biết được thông tin nhóm thanh niên thôn H sẽ đến nên T7, Đ1 và Y cùng ở lại để giải quyết mâu thuẫn. Lúc này nhóm thanh niên Hoà Hiệp gồm có H, P, V, T1, Lào, T7, Đ1, Y chuẩn bị vỏ chai thủy tinh gồm vỏ chai bia Qui Nhơn, vỏ chai Pepsi được lấy tại khu vực chợ để chuẩn bị đánh nhau.
Cùng thời điểm này, vào khoảng 22 giờ sau khi nghe S2 gọi điện thoại thì Nguyễn Tuấn K cùng với nhóm thanh niên H, xã X gồm: Võ Văn L2, Lê Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1,Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1, Hồ Văn C3,Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8 chuẩn bị vỏ chai bia Qui Nhơn sau đó chế tạo bom xăng với mục đích đi đến thôn H, xã X để giải cứu S2 và đánh nhau với nhóm thanh niên thôn H. Sau khi tập trung nhóm, chế tạo bom xăng xong thì nhóm thanh niên thôn H điều khiển xe mô tô đến chợ H11 thì bị nhóm thanh niên thôn H ném vỏ chai thủy tinh trước nên các thanh niên thôn H dừng xe mô tô và bước xuống xe sau đó sử dụng vỏ chai bia Qui Nhơn, bom xăng tự chế đã chuẩn bị ném về phía nhóm thanh niên thôn H; cả hai nhóm ném vỏ chai thủy tinh qua lại với nhau, rượt đuổi, la hét, chửi bới, nhóm thanh niên Hòa L11 điều khiển xe mô tô rồ ga gây mất an ninh trật tự, hoang mang cho quần chúng nhân dân.
Sau đó cả nhóm thanh niên thôn H lên xe mô tô và tẩu thoát khỏi hiện trường. Lúc này, Võ Văn V1 điều khiển xe chở sau Nguyễn Tấn T2 và Lê Văn K1; Nguyễn Văn L8 điều khiển xe chở sau là Ngô Văn C2; Nguyễn Xuân H8 điều khiển xe chở sau là Lê Hữu C1 tẩu thoát trên đường bờ kè thôn H, xã X thì gặp lực lượng Công an xã đang đi tuần tra, phát hiện nhóm thanh niên thôn H có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng Công an xã thổi còi báo hiệu yêu cầu các đối tượng dừng xe tuy nhiên do hoảng sợ nên xe mô tô do Võ Văn V1 điều khiển đã va chạm với xe mô tô của lực lượng Công an xã điều khiển dẫn đến hai xe mô tô bị té ngã xuống đường, lúc này xe mô tô L8 điều khiển cũng va chạm vào xe mô tô H8 điều khiển dẫn đến hai xe té ngã xuống đường, tất cả bỏ chạy, lúc này lực lượng Công an xã truy đuổi và bắt giữ được Ngô Văn C2 sau đó đưa C2 về trụ sở Công an xã X để làm việc. Trong quá trình bỏ chạy để tẩu thoát thì Võ Văn V1 bị nhóm thanh niên thôn H gồm: Lê Đình P, Đinh Văn T1, Trần Thanh L, Lê Nguyễn Quyết T7, Đoàn Nhật Y phát hiện rượt đuổi và đánh V1 tại khu vực bãi biển.
Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSSC ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L tội “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Truy tố Nguyễn Tuấn K, Võ Văn L2, Lê Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1, Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1, Hồ Văn C3, Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Đoàn Nhật Y, Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và đề nghị:
- Về tội danh:
Tuyên bố:Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh Lphạm tội “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố:Nguyễn Tuấn K, Võ Văn L2, Lê Văn K1,Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1,Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1, Hồ Văn C3,Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Đoàn Nhật Y, Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt:
+ Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 (cả hai tội), điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 (tội Giữ người trái pháp luật), Điều 55 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo H, P, V, Đinh Văn T1 và Lào; riêng đối với V và Lào áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (tội Gây rối trật tự công cộng): đề nghị xử phạt mỗi bị cáo (H, P, Đinh Văn T1 và Lào) từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, đề nghị xử phạt mỗi bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 03 tháng tù. Riêng bị cáo V áp dụng thêm Điều 90, 91 và Điều 101, 103 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo V từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 10 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và từ 04 tháng đến 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, đề nghị xử phạt bị cáo V từ 01 năm 10 tháng tù đến 02 năm 04 tháng tù.
+ Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Võ Văn L2, Lê Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1, Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1, Hồ Văn C3, Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Đoàn Nhật Y, Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8; Riêng bị cáo K, T7, Đ1, L8, Lê Văn T8, H8 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Riêng bị cáo T7 áp dụng thêm Điều 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T7 từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 10 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đối với bị cáo Lê Văn T8 và Nguyễn Xuân H8 áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo Lê Văn T8 và Nguyễn Xuân H8 được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng vụ án theo Biên bản giao nhận ngày 15/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.
- Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về phần dân sự: Bị hại đã được bồi thường, nên không xem xét.
- Đối với Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh Lđã có hành vi chặn xe mô tô, kéo áo, làm S2 và xe té ngã xuống đường bê tông, làm S2 bị thương tích với tỷ lệ là 07%, xe mô tô BKS: 78D1-376.42 bị hư hỏng trị giá 1.116.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình điều tra S2 đã tự nguyện làm đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi cố ý gây thương tích và thiệt hại xe mô tô trị giá 1.116.000 đồng. Nên hành vi trên của các bị can không đủ yếu tố cấu thành tội phạm cố ý gây thương tích, cũng như không đủ yếu tố cấu thành tội: cố ý làm hư hỏng tài sản. Do đó, không xem xét xử lý.
- Đối với Lê Đình P, Đinh Văn T1, Trần Thanh L, Lê Nguyễn Quyết T7, Đoàn Nhật Y có hành vi đánh bị can Võ Văn V1 gây thương tích nhẹ. Tuy nhiên bị can Võ Văn V1 đã tự nguyện có đơn xin từ chối giám định thương tích, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Vì vậy, không có cơ sở để xem xét xử lý.
- Đối với Lê Văn K1 đã có hành vi dùng vỏ chai bia Quy Nhơn tạo thành bom xăng đốt ném ở khu vực chợ gây cháy nổ, nhưng không gây thiệt hại gì đến tài sản của cơ quan, tổ chức và của người dân xung quanh nên không xem xét xử lý.
- Đối với Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L, Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1, Đoàn Nhật Y đã có hành vi lấy các thùng đựng vỏ chai bia Quy Nhơn, chai P1 ở khu vực chợ để làm hung khí ném về phía nhóm thanh niên thôn H. Tuy nhiên, qua truy tìm chủ sở hữu xung quanh khu vực chợ, thì không ai bị mất số tài sản trên. Ngoài ra số vỏ chai thủy tinh trên bị vỡ, không kiểm đếm số lượng và chủng loại được. Nên không có cơ sở để xem xét xử lý.
- Đối với Nguyễn Tuấn K, Võ Văn L2, Lê Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1, Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1, Hồ Văn C3, Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8 đã có hành vi lấy thùng đựng vỏ chai bia Quy Nhơn ở khu vực quen đường thôn H, xã X, thị xã S để chế tạo bom xăng và làm hung khí ném về phía nhóm thanh niên thôn H, xã X. Tuy nhiên, qua truy tìm chủ sở hữu xung quanh khu vực quen đường thôn H, xã X thì không ai bị mất số tài sản trên. Ngoài ra số vỏ chai thủy tinh trên bị vỡ, không kiểm đếm số lượng được. Nên không có cơ sở để xem xét xử lý.
- Đối với Võ Văn V1 đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 78D1-316.18 chở sau Nguyễn Tấn T2 và Lê Văn K1 lưu hành theo hướng Đ3-Tây đã va chạm vào xe mô tô biển số 78C2-000.09 do lực lượng Công an xã điều khiển đi tuần tra trên đường bờ kè theo hướng ngược chiều, dẫn đến hai xe mô tô bị té ngã xuống đường. Nhưng không ai bị thương tích, xe mô tô biển số 78C2-000.09 cũng không hư hỏng gì nên không có cơ sở để xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tuy nhiên việc vắng mặt họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định, kết luận định giá, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 17/10/2022, tại khu vực đoạn đường đèo “Ông K4” thuộc thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên các bị cáo Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L có hành vi chặn giữ anh Lê Thanh S2 cùng xe mô tô của S2 nhằm mục đích giải quyết mâu thuẫn với nhau. Trong đó, bị cáo H trực tiếp dùng tay kéo áo S2 khi đang điều khiển xe mô tô làm S2 té ngã xuống đường. Bị cáo P điều khiển xe mô tô của S2 để chở S2 ngồi giữa V ngồi sau giữ S2 di chuyển đến khu vực quán T12 tại thôn H, xã X. Tại đây, các bị cáo H, P, V, T1 và Lào giữ S2 và xe của S2 không cho S2 đi về, khi đó H đã yêu cầu S2 gọi điện thoại cho K, L2 đến gặp để giải quyết mâu thuẫn rồi mới cho S2 về. Sau đó, các bị cáo tiếp tục di chuyển đến chợ H11, khi đi thì P tiếp tục điều khiển xe mô tô của S2 để chở S2 ngồi giữa V ngồi sau giữ S2. Tại khu vực chợ, các bị cáo tiếp tục giữ S2 và xe mô tô của S2 cho đến khi các bị cáo ở H, Xuân C7 đi đến đánh nhau rồi mới giải tán, bỏ chạy để cho S2 đi về. Như vậy, các bị cáo H, P, V, T1 và Lào giữ S2 khoảng thời gian hơn 90 phút đã xâm phạm đến quyền tự do thân thể của S2. Hành vi của các bị cáo Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự “Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Đồng thời, vào khoảng 23 giờ ngày 17/10/2022, tại khu vực chợ N7 thuộc thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, nơi có nhiều hộ dân sinh sống, nhóm các bị cáo thôn Hgồm: Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L, Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1, Đoàn Nhật Y đã có hành vi dùng vỏ chai thủy tinh là hung khí nguy hiểm ném nhóm các bị cáo thôn H gồm Nguyễn Tuấn K, Võ Văn L2, Lê Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1, Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1, Hồ Văn C3,Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8, dẫn đến các bị cáo ở H dùng vỏ chai bia, bom xăng tự chế là hung khí nguy hiểm ném trả. Trong quá trình này các bị cáo đã có hành vi la hét, chửi bới, rượt đuổi đánh nhau tại khu vực chợ và đến tại khu vực bãi biển gần đó, điều khiển xe rồ ga làm ồn ào, mất an ninh trật tự an toàn công cộng. Như vậy, hành vi của các bị cáo Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L, Nguyễn Tuấn K, Võ Văn L2, Lê Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1, Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1, Hồ Văn C3,Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Đoàn Nhật Y, Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự “Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ... thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[2.2] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội:
Xét hành vi phạm tội giữ người trái pháp luật của các bị cáo Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng lợi dụng đoạn đường vắng, đêm tối, bị hại S2 điều khiển xe đi một mình để chặn đường, giữ người và xe mô tô, hành vi giữ người của các bị cáo đã làm cho bị hại té ngã xe gây thương tích cho bị hại và hư hỏng xe mô tô.
Xét hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng của các bị cáo Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L, Nguyễn Tuấn K, Võ Văn L2, Lê Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1,Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1,Hồ Văn C3,Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Đoàn Nhật Y, Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự, an toàn công cộng, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng. Hành vi này của các bị cáo có thể là nguy cơ làm thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của những người xung quanh.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung.
[2.3] Về nhân thân của các bị cáo:
Đối với bị cáo P có nhân thân từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Bị cáo K và L2 có nhân thân từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, riêng bị cáo K còn có một tiền sự gây rối trật tự công cộng. Bị cáo K1 có nhân thân từng bị Tòa án xử phạt tù cho hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo P, K, L2 và K1 còn nhận thức kém trong việc chấp hành pháp luật. Các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.
[2.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xétcác bị cáo Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L đã góp tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Giữ người trái pháp luật và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Gây rối trật tự công cộng. Riêng bị cáo Phan Hoàng V và Trần Thanh L có ông nội là người có công với cách mạng, nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo V, Lào cho cả hai tội.
Xét các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Võ Văn L2, Lê Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1, Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1, Hồ Văn C3, Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Đoàn Nhật Y, Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8 quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo K từng tham gia nghĩa vụ quân sự và có bà nội là người có công với cách mạng, bị cáo T7 có ông nội là người có công với cách mạng, bị cáo Đ1 và bị cáo L8 có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bị cáo Lê Văn T8 có ông ngoại là người có công với cách mạng và được các cấp chính quyền tặng thưởng nhiều giấy khen trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bị cáo H8 tham gia với vai trò không đáng kể, có vợ mới sinh con thiếu tháng bị vàng da viêm phổi chưa được 01 tháng tuổi, phải điều trị tại bệnh viện, vợ bị cáo không có việc làm, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận, nhưng bị cáo vẫn tích cực tham gia ủng hộ đồng bào lũ lụt miền B nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo: Kiệt, T7, Đ1, L8, Lê Văn T8 và H8.
Vì vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[2.6] Về hình phạt:
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để phân hóa vai trò, đánh giá tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo.
Đối với tội Giữ người trái pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội: Xét bị cáo Hồ Quốc H là người khởi xướng vụ việc đi chặn xe bị hại S2, bị cáo H trực tiếp dùng tay kéo người bị hại đang điều khiển xe mô tô trên đường làm bị hại té ngã bị thương tích. Bị cáo P trực tiếp điều khiển xe của bị hại để chở bị hại, V ngồi sau để giữ bị hại. Đối với T8 và Lào tham gia vụ việc giữ người trái pháp luật, nhưng với mức độ không tích cực như H, P, V nên khi lượng hình đối với T8 và Lào ở mức tương xứng. Riêng bị cáo Vũ K5 thực hiện tội phạm là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Đối với tội Gây rối trật tự công cộng: Trong nhóm các bị cáo ở H thì bị cáo H là người khởi xướng vụ việc và gọi điện thoại cho bị cáo T7 đến tham gia nên cần xử phạt mức án cao hơn các bị cáo khác trong nhóm. Bị cáo P tham gia tích cực hơn các bị cáo còn lại trong nhóm và có nhân thân xấu nên cần có mức án tương xứng. Đối với các bị cáo V, Đinh Văn T1, Lào, Y, T7, Đ1 thực hiện với vai trò, mức độ tương đương, nhưng V, Lào, T7 và Đ1 có thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên mức hình phạt thấp hơn bị cáo T1 và Y. Bị cáo V và T7 khi thực hiện tội phạm là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định. Mặc dù, bị cáo V và T7 khi phạm tội là người chưa thành niên nhưng trong vụ án này bị cáo V đã phạm hai tội; bị cáo T7 thì sau khi giải tán vụ việc đánh nhau tại khu vực chợ, nghe còi tín hiệu của lực lượng Công an xã đến thì bị cáo T7 chạy ra bờ biển tiếp tục cùng với P, Đinh Văn T1, Lào và Y đánh bị cáo V1, cho thấy bị cáo T7 mặc dù chưa thành niên nhưng tích cực tham gia đánh nhau cùng các bị cáo khác. Nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với tất cả các bị cáo ở nhóm H (nhóm khởi xướng vụ việc và tấn công trước) mới tương xứng tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo.
Trong nhóm các bị cáo ở H, bị cáo K là người khởi xướng, kêu gọi một số bị cáo khác tham gia, bị cáo K có nhân thân xấu, có 01 tiền sự gây rối trật tự công cộng bị xử phạt vào ngày 12/10/2022 nhưng chỉ 05 ngày sau là ngày 17/10/2022 lại tiếp tục thực hiện tội phạm; Bị cáo L2 có nhân thân xấu, tham gia tích cực đi đánh nhau, rót xăng vào vỏ chai bia để làm bom xăng tự chế, gọi điện thoại rủ T2 tham gia và cung cấp dao cho T2 cầm đi đánh nhau; Bị cáo K1 có nhân thân xấu từng bị xử phạt tù cho hưởng án treo, K1 trực tiếp chế tạo bom xăng và ném bom xăng tự chế tại khu vực chợ N7 gây cháy nổ. Nên cần xử lý các bị cáo K, L2 và K1 với mức án cao hơn các bị cáo khác.
Đối với bị cáo T2 (có nickname facebook là T2 liều mạng) khi được K rủ đi đánh nhau thì T2 bảo K1 chở đi, trên đường đi mang theo khay vỏ chai bia để cho nhóm sử dụng làm hung khí, T2 cởi áo để xé làm vải nhét vào các chai bom xăng tự chế và cầm dao la hét, chửi bới, hâm doạ tại khu vực chợ nên cần có mức hình phạt tương xứng cho bị cáo.
Đối với bị cáo V1 và Đ có vai trò tích cực trong việc chế tạo bom xăng nên mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại. Đối với các bị cáo C1, C3, C2 trực tiếp ném vỏ chai bia, la hét tại chợ; các bị cáo L8, H6, Lê Văn T8 và H8 trực tiếp điều khiển xe chở các bị cáo khác đi đánh nhau, lời khai ban đầu H6 nhận tội thay cho K1 gây khó khăn cho việc điều tra vụ án, tại chợ các bị cáo điều khiển xe rồ ga gây ồn ào, mất an ninh trật tự. Tuy nhiên, các bị cáo L8, Lê Văn T8 và H8 được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên mức hình phạt thấp hơn các bị cáo C1, C3, C2, H6.
Xét tại phiên toà, bị cáo Đ xin hưởng án treo, người bào chữa đề nghị cho bị cáo L2 hưởng án treo; tuy nhiên căn cứ nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo L2 và Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo L2 và Đ không đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xét bị cáo Lê Văn T8 và Nguyễn Xuân H8 lần đầu phạm tội với vai trò không đáng kể, thực hiện hành vi bộc phát nhất thời, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nơi làm việc ổn định, được chính quyền địa phương xác nhận có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc; bị cáo Lê Văn T8 có ông ngoại là người có công cách mạng và được UBND xã, UBND huyện, Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng tặng nhiều giấy khen trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc; bị cáo H8 bị nhóm Hòa H10 ném vỏ chai bia trúng bị thương, hiện có vợ mới sinh con chưa được 01 tháng tuổi, con sinh thiếu tháng bị vàng da viêm phổi, được bác sĩ chỉ định tái khám tại Bệnh viện Từ Dũ Thành phố H, vợ bị cáo không có việc làm, bị cáo H8 là lao động duy nhất trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận, bị cáo H8 có tinh thần ủng hộ đồng bào lũ lụt miền B cho thấy bị cáo đã nhận ra sai lầm và có ý thức tự sửa chữa. Xét thấy, bị cáo Lê Văn T8 và Nguyễn Xuân H8 có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo Lê Văn T8 và Nguyễn Xuân H8 hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, hai bị cáo không thuộc một trong những trường hợp không cho hưởng án treo được quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, để thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng và hướng thiện, coi trọng phòng ngừa, giảm phạt tù nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo Lê Văn T8 và Nguyễn Xuân H8. Đề nghị của Kiểm sát viên và quan điểm của người bào chữa là có cơ sở để chấp nhận.
Xét mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với một số bị cáo là phù hợp nên chấp nhận, một số bị cáo là chưa phù hợp với những nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[2.7] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.
[2.8] Về phần dân sự: Bị hại đã được bồi thường và không có yêu cầu gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.9] - Đối với Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L đã có hành vi chặn xe mô tô, kéo áo, làm S2 và xe té ngã xuống đường bê tông, S2 bị thương tích với tỷ lệ là 07%, xe mô tô BKS: 78D1-376.42 bị hư hỏng thiệt hại 1.116.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra S2 đã tự nguyện làm đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi cố ý gây thương tích và thiệt hại xe mô tô. Nên hành vi trên của các bị can không đủ yếu tố cấu thành tội phạm cố ý gây thương tích, cũng như không đủ yếu tố cấu thành tội: cố ý làm hư hỏng tài sản. Do đó, không có cơ sở để xem xét xử lý.
- Đối với Lê Đình P, Đinh Văn T1, Trần Thanh L, Lê Nguyễn Quyết T7, Đoàn Nhật Y có hành vi đánh bị can Võ Văn V1 gây thương tích nhẹ. Tuy nhiên bị can Võ Văn V1 đã tự nguyện có đơn xin từ chối giám định thương tích, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Vì vậy, không có cơ sở xem xét xử lý.
- Đối với Lê Văn K1 đã có hành vi dùng vỏ chai bia tạo thành bom xăng đốt ném ở khu vực chợ gây cháy nổ, nhưng không gây thiệt hại gì đến tài sản của cơ quan, tổ chức và của người dân xung quanh nên không xem xét xử lý.
- Đối với Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L, Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1, Đoàn Nhật Y đã có hành vi lấy các thùng đựng vỏ chai bia Quy Nhơn, chai P1 ở khu vực chợ để làm hung khí ném về phía nhóm thanh niên thôn H. Tuy nhiên, qua truy tìm chủ sở hữu xung quanh khu vực chợ, thì không ai bị mất số tài sản trên. Ngoài ra số vỏ chai thủy tinh trên bị vỡ, không kiểm đếm số lượng và chủng loại được. Nên không có cơ sở để xem xét xử lý.
- Đối với Nguyễn Tuấn K, Võ Văn L2, Lê Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1, Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1, Hồ Văn C3,Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8 đã có hành vi lấy thùng đựng vỏ chai bia Quy Nhơn ở khu vực quen đường thôn H, xã X, thị xã S để chế tạo bom xăng ném nhóm thanh niên thôn H, xã X. Tuy nhiên, qua truy tìm chủ sở hữu xung quanh thì không ai bị mất số tài sản trên. Ngoài ra số vỏ chai thủy tinh trên bị vỡ, không kiểm đếm số lượng được. Nên không có cơ sở để xem xét xử lý.
- Đối với Võ Văn V1 đã có hành vi điều khiển xe mô tô va chạm vào xe mô tô của lực lượng Công an xã điều khiển đi tuần tra trên đường, dẫn đến hai xe mô tô bị té ngã xuống đường. Nhưng không ai bị thương tích, xe mô tô của lực lượng Công an xã cũng không hư hỏng gì nên không có cơ sở để xử lý.
[3] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố:Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh Lphạm tội “Giữ người trái pháp luật”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố: Hồ Quốc H, Lê Đình P, Phan Hoàng V, Đinh Văn T1, Trần Thanh L, Nguyễn Tuấn K, Võ Văn L2, Lê Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Võ Văn V1, Lê Tấn Đ, Lê Hữu C1, Hồ Văn C3, Ngô Văn C2, Phan Văn H6, Đoàn Nhật Y, Lê Nguyễn Quyết T7, Nguyễn Công Đ1, Nguyễn Văn L8, Lê Văn T8, Nguyễn Xuân H8 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
[1] Áp dụng Điều 38, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 (tội Giữ người trái pháp luật), điểm s khoản 1 Điều 51 (cả hai tội), Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Hồ Quốc H 09 (chín) tháng tù tội “Giữ người trái pháp luật” và 03 (ba) năm tù tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt: 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[2] Áp dụng Điều 38, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 (tội Giữ người trái pháp luật), điểm s khoản 1 Điều 51 (cả hai tội), Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lê Đình P 09 (chín) tháng tù tội “Giữ người trái pháp luật” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt: 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[3] Áp dụng Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 51 (tội Giữ người trái pháp luật), điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (cả hai tội), Điều 55, 58, 90, 91 và Điều 101, 103 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Phan Hoàng V 06 (sáu) tháng tù tội “Giữ người trái pháp luật” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt: 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[4] Áp dụng Điều 38, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 (tội Giữ người trái pháp luật), điểm s khoản 1 Điều 51 (cả hai tội), Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T1 06 (sáu) tháng tù tội “Giữ người trái pháp luật” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt: 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[5] Áp dụng Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 51 (tội Giữ người trái pháp luật), điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (cả hai tội), Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh L 06 (sáu) tháng tù tội “Giữ người trái pháp luật” và 02 (hai) năm tù tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[6] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn K 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[7] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn L2 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[8] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn K1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[9] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T2 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[10] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn V1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[11] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lê Tấn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[12] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu C1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[13] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn C2 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[14] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn C3 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[15] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H6 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[16] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Nhật Y 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[17] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 58, 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lê Nguyễn Quyết T7 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[18] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công Đ1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[19] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L8 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[20] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T8 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
[21] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân H8 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Lê Văn T8 và Nguyễn Xuân H8 cho Ủy ban nhân dân xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) mảnh vỡ phần cổ chai bia “Qui Nhơn”, kích thước (10x4x3)cm, trong đó phần miệng cổ chai bia này được bịt kín bằng mảnh vải màu trắng, đỏ, vàng (được niêm phong trong một túi ni lông, bên ngoài niêm phong bằng giấy trắng có dấu tròn đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng).
- Một số mảnh vỡ vỏ chai bia “Qui Nhơn”; 01 (một) cổ chai bia “Qui Nhơn” được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 1902229.
- 01 (một) khúc gỗ tre dài 01 mét, đường kính 05cm được niêm phong bằng giấy A4.
- Một số mảnh vỡ vỏ chai “Pepsi” và 02 cổ chai “Pepsi” được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 1902237.
- Một số mảnh vỡ vỏ chai bia “Qui Nhơn” được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 1902238.
- 01 (một) khúc gỗ dài 1,15m, đường kính 4,5cm được niêm phong bằng giấy A4.
- 03 (ba) vỏ chai bia “Qui Nhơn” được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2 1901146.
- 01 (một) vỏ chai bia “Qui Nhơn” được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2 1901147.
- 01 (một) đôi dép da xỏ ngón màu đen, 01 (một) chiếc dép nhựa phía bên phải màu trắng nhãn hiệu “TIKTOK”, 01 (một) chiếc dép nhựa phía bên trái màu trắng hiệu “REACH FURTHER” được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS1 2128729.
- 01 (một) đôi dép lào xỏ ngón màu trắng; 01 (một) đôi dép lào xỏ ngón màu đen hiệu “ADIDAS” được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS1 2128730.
- 01 (một) đôi dép da hiệu “TRIWIN” và 01 (một) đôi dép nhựa hiệu “DUWA FASHION” được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2 2128722.
- 01 (một) đôi dép da màu đen hiệu “VENTO” được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2 1901145.
- 01 (một) chiếc dép da bên phải hiệu “ADDIAS”, 01 (một) chiếc dép da bên trái hiệu “ADDIAS” được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2 1901142.
- 01 (một) đôi dép nhựa màu trắng hiệu “ADIDAS” được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2 1901142.
- 01 (một) vỏ chai bia “Qui Nhơn” đã qua sử dụng được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2 1901144.
- 01 (một) vỏ chai bia “Qui Nhơn”, phần miệng chai được bịt kín bằng mảnh vải màu trắng đỏ bên trong có chứa một ít chất lỏng (được niêm phong trong một túi ni lông, bên ngoài niêm phong bằng giấy trắng có dấu tròn đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng).
- 03 (ba) vỏ chai bia “Qui Nhơn” đã qua sử dụng được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS1 1901127.
- 01 (một) miếng nhựa bị tác động nhiệt, ám khói, kích thước (4x5)cm được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS4 2214844.
- 01 (một) vỏ chai bia “Qui Nhơn” đã qua sử dụng được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2 2128720.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Triều |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN về giữ người trái pháp luật và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giữ người trái pháp luật và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 21 bị cáo gây rối trật tự công cộng
