TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày: 30-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Truyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Thuỷ
Ông Huỳnh Văn Kha
- Thư ký phiên tòa: Bà Long Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Văn T sinh ngày 16/6/1965; tại tỉnh Trà Vinh.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm A, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinhnơi cư trú: khóm A, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinhnghề nghiệp: viên chức; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Đ sinh năm 1910 (chết) và bà Nguyễn Thị H sinh năm 1917 (chết); có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; ngày 29/7/2024 bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
- Bị hại:
1/. Ngân hàng N– Chi nhánh thị xã D: khóm A, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh
+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm H1 T1chức vụ: Giám đốc.
+ Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn M T2chức vụ: Phó trưởng phòng Khách hàng; có đơn xin xét xử vắng mặt.
2/. Ông Trương Văn Ú năm 1979; trú tại ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinhcó đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 30/5/2024 bị cáo Võ Văn T1 khiển xe mô tô biển số 84K1 – 4654 đến trước cổng Ngân hàng N– Chi nhánh thị xã D, phường A, thị xã D bạn gái tên T2 T3Đến khoảng 00 giờ 15 ngày 31/5/2024 trong lúc ngồi đợi bạn gái, bị cáo nhớ lại việc ông Trương Văn Ú1 Phó Giám đốc, kiêm Chủ tịch công đoàn Ngân hàng N– Chi nhánh thị xã D quyết định chia tiền thưởng cuối năm cho bị cáo ít hơn những đồng nghiệp khác, là do ông Ú2 bị cáo. Lúc này bị cáo thấy xe ô tô hiệu Toyota biển số 84A – 100.59 của ông Ú3 đậu trong khuôn viên của Ngân hàng nên bị cáo nảy sinh ý định gây thiệt hại cho xe ô tô của ông Ú4 hả giận, bị cáo điều khiển xe mô tô của mình đi nhặt 01 cục đá xanh nặng 2,1kg và 01 cục đá xanh nặng 1,5kg, bị cáo điều khiển xe mô tô đến cổng chính Ngân hàng N– Chi nhánh thị xã D bị cáo cầm cục đá xanh nặng 2,1kg chọi vào hướng xe ô tô hiệu Toyota biển số 84A-100.59 của ông Ú5 trúng tấm Alu của Ngân hàng làm rách 01 vết hình chữ T có kích thước 3,5cm x 2cm, bị cáo tiếp tục cầm cục đá xanh nặng 1,5kg chọi trực tiếp vào kính chắn gió phía trước hiệu AGC của xe ô tô Toyota Vios biển số 84A – 100.59 của ông Ú6 kính chắn gió bị nứt.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá kết luận: 01 kính chắn gió hiệu AGC kích thước 1,33cm x 0,93m bị rạn nứt khu vực phía trước ghế lái xe ô tô hiệu Toyota Vios, màu trắng, biển số 84A – 100.59 có giá trị tại thời điểm bị xâm hại là 13.947.000 đồng; 01 vết rách hình chữ T có kích thước 3,5cm x 2cm trên tấm Alu bên ngoài trụ ATM có giá trị tại thời điểm bị xâm hại là 200.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 71/CT-VKS-HS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai và thừa nhận hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và thống nhất về kết luận kết luận định giá tài sản.
- Kiểm sát viên luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s, i, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Võ Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; áp dụng khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự đề nghị phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu và tiêu huỷ gồm: 01 cục đá nham xanh, không rõ hình dạng và kích thước, nặng 2,1kg, ở một phần cục đá có màu đỏ và 01 cục đá nham xanh, không rõ hình dạng và kích thước, nặng 1,5kg; đối với 01 USB dung lượng 08GB hiệu TOSHIBA, bên trong lưu dữ liệu file video có tên “video 31-5-2024 dung lượng 41.1MB, thời lượng 10 phút 47 giây được niêm phong trong một bìa màu trắng có kích thước (17x11cm) tại nơi giáp lai có chữ ký của Võ Văn T3 Điều tra viên Võ Văn L có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D lưu trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo, bị hại không phát biểu ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi của mình xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra thu thập được. Trên cơ sở đánh giá, xem xét toàn diện các chứng cứ có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 00 giờ 15 ngày 31/5/2024 trước cổng chính của Ngân hàng N– Chi nhánh T6, thuộc khóm A, phường A, thị xã D Võ Văn T4 cục đá xanh nặng 2,1kg chọi vào trúng tấm Alu của Ngân hàng N– Chi nhánh thị xã D 01 vết hình chữ T có kích thước 3,5cm x 2cm, bị cáo tiếp tục cầm cục đá xanh nặng 1,5kg chọi trực tiếp vào kính chắn gió phía trước hiệu AGC của xe ô tô Toyota Vios biển số 84A – 100.59 của ông Trương Văn Ú6 kính chắn gió bị rạn nứt. Do đó bị cáo làm hư hỏng tài sản của Ngân hàng N– Chi nhánh thị xã D 200.000 đồng và của ông Trương Văn Ú1 13.947.000 đồng, tổng thiệt hại về tài sản là 14.147.000 đồng.
[2] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận biết việc thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên chỉ vì bị cáo nghi ngờ ông Trương Văn Ú7 tình chia tiền thưởng cho bị cáo ít hơn những đồng nghiệp khác, bị cáo thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của Ngân hàng N– Chi nhánh thị xã D 200.000 đồng và của ông Trương Văn Úl 13.947.000 đồng, tổng thiệt hại về tài sản là 14.147.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, tài sản mà bị cáo làm hư hỏng có tổng giá trị 14.147.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo Võ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
[3] Về quan điểm luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy: Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích đúng tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quan điểm buộc tội của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các tình tiết và các tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; hành vi của bị cáo không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm mất trật tự xã hội tại địa phương, tài sản bị cáo làm hư hỏng có tổng giá trị 14.147.000 đồng. Tuy nhiên mức độ hành vi phạm tội là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo là đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung cho xã hội và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối bị cáo để tương xứng với hành vi phạm tội và tính chất của vụ án.
[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại tổng số tiền 15.200.00 đồng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác và được tặng kỷ niệm chương; gia đình bị cáo có nhiều người có công với cách mạng và bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 cục đá nham xanh, không rõ hình dạng và kích thước, nặng 2,1kg, ở một phần cục đá có màu đỏ và 01 cục đá nham xanh, không rõ hình dạng và kích thước, nặng 1,5kg là công cụ phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu huỷ. Đối với 01 USB dung lượng 08GB hiệu TOSHIBA, bên trong lưu dữ liệu file video có tên “video 31-5-2024 dung lượng 41.1MB, thời lượng 10 phút 47 giây được niêm phong trong một bìa màu trắng có kích thước (17x11cm) tại nơi giáp lai có chữ ký của Võ Văn T3 Điều tra viên Võ Văn L có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D được lưu trong hồ sơ vụ án.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 15.200.000 đồng. Các bị hại không có yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Võ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã D, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của bị cáo Võ Văn T là 02 (hai) năm được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo Võ Văn T 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo Võ Văn T nộp vào ngân sách Nhà nước 10.000.000 đồng.
Giao bị cáo Võ Văn T cho Ủy ban nhân dân Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ gồm: 01 cục đá nham xanh, không rõ hình dạng và kích thước, nặng 2,1kg, ở một phần cục đá có màu đỏ và 01 cục đá nham xanh, không rõ hình dạng và kích thước, nặng 1,5kg được niêm phong trong khối hình hộp chữ nhật có kích thước (29,7x16,2x9,2cm) ký hiệu HD có chữ ký Tăng Văn Llvà Võ Văn T5 dấu hình tròn đỏ có chữ “CÔNG AN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, CÔNG AN PHƯỜNG 1” tại nơi giáp lai. Đối với 01 USB dung lượng 08GB hiệu TOSHIBA, bên trong lưu dữ liệu file video có tên “vidoa 31-5-2024 dung lượng 41.1MB, thời lượng 10 phút 47 giây được niêm phong trong một bìa màu trắng có kích thước (17x11cm) tại nơi giáp lai có chữ ký của Võ Văn T3 Điều tra viên Võ Văn L có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D được lưu trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ QBuộc bị cáo Võ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Truyền |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” Căn cứ khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của bị cáo Võ Văn T là 02 (hai) năm được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
