Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH THƯỢNG

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số:49/2024/DS-ST

Ngày: 18/9/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Loan
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Hổ
  • Bà Lý Diệu Hiền
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Quách Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng tham gia phiên toà: Không tham gia.

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 79/2024/TLST-DS, ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K.

    Địa chỉ trụ sở: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng Giám đốc.

    Người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng: Ông Phạm Việt T – chức vụ: Nhân viên xử lý nợ. (có mặt)

  2. Bị đơn: Ông Lê Thanh C, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị D, sinh năm 1979.

    Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang. (ông C, bà D - vắng mặt)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thanh P, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang. (ông P – vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 01/11/2023 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Nguyên đơn, ông Phạm Việt T trình bày:

    Ngày 16/12/2019 ông Lê Thanh C (sau đây gọi tắt là ông C) và bà Đỗ Thị D (sau đây gọi tắt là bà D) có ký 02 hợp đồng tín dụng, hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 2327/19/HĐHM/1009-7586, ngày 16/12/2019 và hợp đồng tín dụng từng lần số 2401/20/HĐTD/1009-7586, ngày 17/12/2020 tại Ngân hàng TMCP K (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay tổng số tiền 90.000.000 đồng, lãi suất 13.4%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp. Ông Lê Thanh P (sau đây gọi tắt là ông P) ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2327/19/HĐTC-BĐS/1009-7586, ngày 16/12/2019 thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 15004.4m² đất tọa lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận QSD đất số BA095807, vào sổ cấp GCN số CH 00114 do UBND huyện U cấp ngày 06/9/2010 cho ông Lê Thanh P đứng tên để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng. Nay hợp đồng tín dụng đã quá hạn thanh toán.

    Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông C và bà D trả tổng số tiền gốc lãi là 155.544.446 đồng (trong đó, tiền gốc 90.000.000 đồng, tiền lãi 65.544.446 đồng lãi suất tạm tính đến ngày 18/9/2024) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ.

    Trường hợp khi có bản án có hiệu lực mà ông C và bà D không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K.

  2. Bị đơn ông Lê Thanh C và bà Đỗ Thị D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên hoà giải và phiên toà nên không có lời trình bày.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh P đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên hoà giải và phiên toà nên không có lời trình bày.
  4. Tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được bao gồm:

    Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 2327/19/HĐHM/1009-7586, ngày 16/12/2019 và hợp đồng tín dụng từng lần số 2401/20/HĐTD/1009-7586, ngày 17/12/2020 (bản sao); hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2327/19/HĐTC-BĐS/1009-7586, ngày 16/12/2019 tại Ngân hàng TMCP K –Phòng giao dịch huyện V (bản sao); Giấy chứng nhận QSD đất của ông Lê Thanh P (photo); Bảng tính lãi.

Tại phiên tòa:

Ông Phạm Việt T đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu ông C và bà D trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền vay gốc và lãi là 155.544.446 đồng (trong đó, tiền gốc 90.000.000 đồng, tiền lãi 65.544.446 đồng lãi suất tạm tính đến ngày 18/9/2024) cho đến khi ông C và bà D thanh toán xong các khoản nợ. Trường hợp ông C và bà D không thanh toán hết các khoản nợ vay cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP K yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Thanh C và bà Đỗ Thị D; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh P được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Bị đơn không có yêu cầu phản tố, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh P không có yêu cầu độc lập. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Lê Thanh C, bà Đỗ Thị D và ông Lê Thanh P.
  2. Về nội dung tranh chấp: Ngày 16/12/2019 ông C và bà D có ký 02 hợp đồng tín dụng vay vốn của Ngân hàng TMCP K, hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 2327/19/HĐHM/1009-7586, ngày 16/12/2019 và hợp đồng tín dụng từng lần số 2401/20/HĐTD/1009-7586, ngày 17/12/2020 tại Ngân hàng TMCP K - chi nhánh K1 – Phòng giao dịch huyện V vay tổng số tiền 90.000.000 đồng, lãi suất 13.4%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp.

    Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất diện tích 15004.4m² đất tọa lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận QSD đất số BA095807, vào sổ cấp GCN số CH 00114 do UBND huyện U cấp ngày 06/9/2010 cho ông Lê Thanh P đứng tên, do ông P ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2327/19/HĐTC-BĐS/1009-7586, ngày 16/12/2019.

    Nay khoản vay của ông C và bà D đã quá thời hạn thanh toán hợp đồng nhưng ông C và bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông C và bà D thanh toán tiền gốc và lãi là 155.544.446 đồng (trong đó, tiền gốc 90.000.000 đồng, tiền lãi 65.544.446 đồng lãi suất tạm tính đến ngày 18/9/2024) cho đến khi ông C và bà D thanh toán xong các khoản nợ là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

  3. Trường hợp ông C và bà D không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 15004.4m² tọa lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận QSD đất số BA095807, vào sổ cấp GCN số CH 00114 do UBND huyện U cấp ngày 06/9/2010 cho ông Lê Thanh P đứng tên theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2327/19/HĐTC-BĐS/1009-7586, ngày 16/12/2019 tại Ngân hàng TMCP K –Phòng giao dịch huyện V và các tài sản phát sinh gắn liền với tài sản thế chấp theo quy định tại Điều 5 của hợp đồng thế chấp.
  4. Trường hợp ông C và bà D thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng TMCP K có trách nhiệm trả cho ông P bản gốc 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA095807, vào sổ cấp GCN số CH 00114 do UBND huyện U cấp ngày 06/9/2010 cho ông Lê Thanh P đứng tên đối với diện tích đất 15004.4m² tọa lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh C và bà Đỗ Thị D phải chịu án phí trên số tiền là 155.544.446 đồng, được tính nhưu sau: 155.544.446 đồng x 5% = 7.777.000 đồng.

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí là 3.480.000 đồng theo biên lai thu số 0000569 ngày 25/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 144, 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Lê Thanh C và bà Đỗ Thị D; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh P.

    Buộc ông Lê Thanh C và bà Đỗ Thị D liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K tổng cộng số tiền gốc, lãi là 155.544.446 đồng (trong đó, tiền gốc 90.000.000 đồng, tiền lãi 65.544.446 đồng lãi suất tạm tính đến ngày 18/9/2024) và tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày 19/9/2024 cho đến khi ông C và bà D thanh toán xong các khoản nợ.

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người bị thi hành án không thực hiện thì người được thi hành án có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp bao gồm cả tài sản phát sinh gắn liền với tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của người bị thi hành án, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2327/19/HĐTC-BĐS/1009-7586, ngày 16/12/2019 tại Ngân hàng TMCP K –Phòng giao dịch huyện V đối với quyền sử dụng đất diện tích 15004.4m² tọa lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận QSD đất số BA095807, vào sổ cấp GCN số CH 00114 do UBND huyện U cấp ngày 06/9/2010 cho ông Lê Thanh P đứng tên.

    Trường hợp ông C và bà D thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng TMCP K có trách nhiệm trả cho ông Lê Thanh P bản gốc 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA095807, vào sổ cấp GCN số CH 00114 do UBND huyện U cấp ngày 06/9/2010 cho ông Lê Thanh P đứng tên đối với diện tích đất 15004.4m² tọa lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh C và bà Đỗ Thị D phải liên đới chịu án phí là 7.777.000 đồng (bảy triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí là 3.480.000 đồng (ba triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000569 ngày 25/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

  3. Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THA Dân sự huyện;
  • - Các đương sự
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Cẩm Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 49/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng K và ông C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger