Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LƯƠNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày: 06/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Ngư và bà Phan Thị Thu Trà

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Lương Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2024/HSST ngày 14/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn Đ, tên gọi khác: không; sinh năm 1988 tại tỉnh Tuyên

Quang; Nơi thường trú và chỗ ở: Bản Bằng, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Chỗ ở: Xóm P - D, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Lý Văn P, sinh năm 1958; con bà: Triệu Thị C, sinh năm 1962; Vợ: Trịnh Thanh T, sinh năm 1989; Có 02 con sinh năm 2014 và năm 2018: Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.

Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2021/HS-ST ngày 15/6/2021 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2022.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/06/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1972; Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố G, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 10 phút ngày 03/6/2024, tổ công tác Công an thị trấn G làm nhiệm vụ khu vực cổng nhà văn hóa tổ dân phố G, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, phát hiện Lý Văn Đ đang đi bộ trên đường G - N, có biểu hiện nghi vấn vi phạm liên quan đến ma túy, nên yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Đ đã tự giác lấy từ trong túi quần bên trái phía trước giao nộp cho tổ công tác 01 gói chất bột màu trắng, được gói bên ngoài bằng hai lớp lớp ngoài cùng là lớp giấy màu trắng lớp bên trong là lớp giấy bạc màu vàng. Đ khai là heroine tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, số chất bột màu trắng nghi ma túy được thu giữ niêm phong theo quy định ký hiệu A

Cùng ngày, tại phòng K Công an tỉnh T tiến hành cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Đ trong phong bì (ký hiệu A) có khối lượng 0,156 gam. Tại bản Kết luận giám định số 684/KL-KTHS ngày 11/6/2024, của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì (ký hiệu A1) thu giữ của Lý Văn Đ gửi giám định là chất ma túy loại Heroine, có khối lượng là 0,156 gam.

Vật chứng của vụ án là 02 phong bì ký hiệu A1 chứa 0,140 gam ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 hoàn trả sau giám định; và một phong bì ký hiệu A2 bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và vỏ giấy gói hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSPL ngày 13/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lý Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ 50 phút, ngày 03/6/2024, trên đường đi làm về, khi đi dến đoạn ngã ba G - V, Đ một mình đi vào đường H thuộc tổ dân phố G, thị trấn G, huyện P thì gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ cụ thể) 01 gói heroine được gói bên ngoài bằng hai lớp ngoài cùng là lớp giấy báo, lớp bên trong là lớp giấy bạc màu vàng với giá 300.000đ. Mua được heroine Đ giấu vào túi quần bên trái rồi Đ đi bộ về nhà, khi đi đến đoạn đường thuộc tổ dân phố G, thị trấn G, huyện P thì bị Công an thị trấn G, huyện P phát hiện bắt quả tang.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lý Văn Đ từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy các bì niêm phong ký hiệu A1, A2 là ma túy và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giám định và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng thể hiện ăn năn hối cải và xin được xem xét mức án phù hợp nhất để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu được, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận trưng cầu giám định chất ma túy và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định:

Hồi 21 giờ 10 phút ngày 03/6/2024, tại tổ dân phố G, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Lý Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,156 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Công an thị trấn G phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...c, H, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét thấy Cáo trạng số 53/CT-VKSPL ngày 13/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Lý Văn Đ về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét tính chất hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Trong vụ án này, bị cáo tự mình cất giấu tàng trữ trái phép chất ma túy trên người, mục đích sử dụng cho bản thân, không có đồng phạm khác.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo sinh ra lớn lên tại tỉnh Bắc Kạn được gia đình nuôi học tập hết lớp 12 sau đó ở nhà lao động tự do. Bị cáo đã có vợ và 02 con tuy nhiên khoảng năm 2020 thì mắc nghiện ma tuý. Gia đình kinh tế trung bình, không thuộc trường hợp hộ nghèo hoặc cận nghèo. Năm 2021 bị cáo đã bị xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tháng 9 năm 2022. Sau khi chấp hành án xong bị cáo làm công việc tự do, nhưng vẫn không cai bỏ được ma tuý.

[6] Về hình phạt: Sau khi đánh giá tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị xử phạt tù về cùng hành vi, không cai bỏ được ma tuý dẫn đến phạm tội, do đó cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo giáo dục và cai bỏ ma túy, sửa đổi bản thân. Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đề nghị áp dụng đối với bị cáo trong phần luận tội là phù hợp.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh tại địa phương cho thấy bị cáo S là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[8] Về nguồn gốc số ma túy heroine bị thu giữ, Lý Văn Đ khai mua của một người không rõ tên tuổi. Do đó không có cơ sở để điều tra làm rõ.

[9] Về xử lý vật chứng: Xét thấy các vật chứng gồm: 02 phong bì ký hiệu A1 chứa 0,140gam ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 hoàn trả sau giám định; và một phong bì ký hiệu A2 bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và vỏ giấy gói hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự .

[10] Án phí và quyền kháng cáo: Trong vụ án này bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 326 và Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt Lý Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định:

    Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: 02 phong bì ký hiệu A1 chứa 0,140 gam ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 hoàn trả sau giám định; và một phong bì ký hiệu A2 bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và vỏ giấy gói hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 56 ngày 14/8/2024 giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lý Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phú Lương;
  • - Công an huyện Phú Lương;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lương;
  • - Bộ phận THAHS;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger